Hội nghị nằm trong khuôn khổ Triển lãm quốc tế Khoa học Công nghệ Thủy sản Việt Nam lần thứ nhất (VinaFis Expo 2026), quy tụ các nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp; các tổ chức trong nước và quốc tế; cùng lãnh đạo các địa phương và bà con ngư dân; Được tổ chức nhằm cụ thể hóa mục tiêu tăng trưởng 4-5% hằng năm của ngành, định hướng xây dựng Chương trình khoa học công nghệ trọng tâm giai đoạn 2026-2030 phục vụ phát triển thủy sản bền vững, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi số.
![]() |
| Ngành Thủy sản đang chú trọng ứng dụng công nghệ, để đa dạng hóa trong nuôi trồng thủy sản, tăng năng suất, sản lượng và phát triển bền vững. Ảnh minh họa |
Đột phá tư duy là yêu cầu cáp bách trong đổi mới sáng tạo
Chia sẻ tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết, ngành Thủy sản trong nước đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận trong năm 2025, dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức về địa chính trị, thiên tai. Cụ thể, tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đạt 70,61 tỷ USD, trong đó nông, lâm, thủy sản đóng góp 21,3 tỷ USD. Riêng ngành Thủy sản đạt sản lượng 9,5 triệu tấn - mức cao nhất từ trước đến nay; xuất khẩu đạt 11,32 tỷ USD,...
Trong bối cảnh thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, ngành đã vạch ra nhiều chiến lược phát triển. Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, khoa học công nghệ đã đóng góp quan trọng vào những thành tựu thời gian qua, từ hệ thống thủy lợi đến nâng cao độ che phủ rừng; giảm diện tích lúa từ 3,8 triệu ha xuống khoảng 3,1 triệu ha nhưng vẫn duy trì sản lượng 43,5 triệu tấn, trong đó 85-89% là lúa chất lượng cao.
Xác định ngành Nông nghiệp và Môi trường là trụ đỡ kinh tế của đất nước, Chính phủ ban hành Nghị quyết 19, Nghị quyết 120 và Kết luận 29, tầm nhìn đến năm 2045, với nguồn ngân sách 127 nghìn tỷ đồng.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định, dù đã có những kết quả đáng ghi nhận, nhưng đổi mới sáng tạo vẫn chưa được chú trọng thực sự trong toàn ngành. Nhiều đề tài nghiên cứu còn nhỏ lẻ, thiếu tính liên kết chuỗi, trong khi yêu cầu đổi mới sáng tạo là phải có tư duy mới, phát triển theo chuỗi giá trị, gắn với kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi số.
Bên cạnh đó, các nông sản mang thương hiệu quốc gia như lúa gạo, cà phê, hạt điều, nấm, thủy sản,... cần được nâng tầm cả về chất lượng và thương hiệu. Dù giống vẫn là yếu tố quyết định năng suất và chất lượng, nhưng thực tế cho thấy, nhiều sản phẩm chưa đủ sức cạnh tranh; nghiên cứu về thức ăn, dinh dưỡng còn hạn chế.
Theo thống kê, thức ăn thủy sản mỗi năm tiêu thụ khoảng 5,9 triệu tấn, nhưng vẫn phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu, kéo theo chi phí logistics cao.
Đây có thể coi là điểm nghẽn lớn, khi chi phí ở nhiều khâu chiếm tới 60-70% giá thành, làm suy giảm sức cạnh tranh của nông sản khi ra thị trường quốc tế.
Một điểm nghẽn khác là yếu tố ô nhiễm môi trường nuôi trồng thủy sản vẫn ở ngưỡng đáng báo động. Khảo sát thực tế tại Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy, nhiều vùng không thể nuôi hoặc nuôi thủy sản kém hiệu quả do dịch bệnh, môi trường suy giảm; hệ số thức ăn cao, tăng trưởng thấp. Dù đã có hệ thống quan trắc, nhưng việc xử lý và ứng dụng dữ liệu vào sản xuất còn hạn chế, chưa phục vụ hiệu quả các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật.
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho rằng, phải giải quyết gọn tất cả các điểm nghẽn theo chuỗi ngành hàng.
Trong đó, yếu tố con người là vô cùng quan trọng. Thống kê toàn ngành có tới 12.427 cán bộ nghiên cứu khoa học, 44 giáo sư, nhưng hiệu quả khai thác chưa tương xứng, trong khi doanh nghiệp lại vận hành hiệu quả hơn dù phải tự chủ toàn bộ chi phí.
Do đó, phải đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý khoa học công nghệ, tạo động lực để nhà khoa học sáng tạo và làm giàu chính đáng từ tri thức. Thúc đẩy phát triển thị trường khoa học công nghệ, tăng cường kết nối với doanh nghiệp và hội nhập quốc tế.
![]() |
| Nuôi rong sụn là một nghề đang phát triển ở các vùng biển Nam Trung Bộ, đem lại nguồn thu đáng kể cho ngư dân |
Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ để tăng năng suất, chất lượng
Trong khuôn khổ hội nghị, các nhà quản lý ngành Thủy sản, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã đưa ra những tham luận, hướng tới giải quyết triệt để những điểm nghẽn, thúc đẩy đổi mới sáng tạo để phát triển ngành.
Theo TS. Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Kiểm lâm và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), công nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam đã có bước phát triển nhanh, với hệ thống công nghệ và thiết bị ngày càng hiện đại, gắn kết chặt chẽ với vùng nguyên liệu. Hiện cả nước có 823 cơ sở chế biến thủy sản, trong đó phần lớn là cơ sở chế biến đông lạnh.
Trong đó, số lượng doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu vào các thị trường khó tính như EU, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Úc,… ngày càng tăng. Một số doanh nghiệp lớn như Minh Phú, Vĩnh Hoàn đã đóng vai trò dẫn dắt chuỗi sản xuất, góp phần nâng cao vị thế thủy sản Việt trên thị trường quốc tế.
TS. Trần Đình Luân cho rằng, tăng trưởng xuất khẩu thủy sản không chỉ đến từ sản lượng mà còn nhờ đẩy mạnh chế biến sâu và gia tăng giá trị. Kim ngạch xuất khẩu đạt gần 11 tỷ USD năm 2022 và tăng lên 11,3 tỷ USD năm 2025, cho thấy hiệu quả rõ rệt của chiến lược này.
Giai đoạn 2021-2025, là giai đoạn chứng minh xu hướng chuyển dịch từ khai thác sang nuôi trồng rõ nét và hiệu quả. Sản lượng nuôi trồng tăng từ 4,88 triệu tấn lên 6,11 triệu tấn. Các loại tôm nước lợ, cá tra, rong tảo, nhuyễn thể,… đang trở thành trụ cột của ngành.
Thực tế chững minh, khoa học công nghệ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong các khâu then chốt như chọn tạo giống, sản xuất thức ăn, quản lý môi trường nuôi và truy xuất nguồn gốc. Tuy nhiên, nhiều hạn chế vẫn tồn tại, đặc biệt là sự phụ thuộc vào nguồn giống và nguyên liệu nhập khẩu.
Theo PGS.TS. Nguyễn Hữu Ninh, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), trong giai đoạn 2021-2025, Bộ đã triển khai 113 nhiệm vụ khoa học công nghệ với tổng kinh phí hơn 336 tỷ đồng. Các đề tài tập trung vào công nghệ sinh học, sản xuất giống, quy trình nuôi và chế biến.
Tuy nhiên, hiệu quả ứng dụng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Thị trường khoa học công nghệ trong nước còn kém phát triển, các giao dịch mua bán công nghệ còn hạn chế, chưa tạo được hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mạnh mẽ cho ngành thủy sản.
Để tạo đột phá, các chuyên gia cho rằng, cần thúc đẩy mạnh mẽ liên kết “3 nhà” gồm Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp; phát triển thị trường khoa học công nghệ; đồng thời đẩy nhanh chuyển đổi số trong toàn chuỗi sản xuất, từ nuôi trồng đến chế biến và xuất khẩu.
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, các “điểm nghẽn” hiện nay phải được giải quyết theo chuỗi ngành hàng.
Với những định hướng đúng đắn và sự vào cuộc đồng bộ của các cấp ngành, khoa học công nghệ được kỳ vọng sẽ trở thành động lực trực tiếp, giúp ngành thủy sản Việt Nam phát triển bền vững, định vị trên trường quốc tế.
Đường dẫn bài viết: https://tudonghoangaynay.vn/dau-tu-khoa-hoc-cong-nghe-giai-quyet-diem-nghen-cua-nganh-thuy-san-viet-nam-21169.htmlIn bài viết
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2024 https://tudonghoangaynay.vn/ All right reserved.