Chuyển đổi số tăng tốc: Từ xây dựng hệ thống sang đo hiệu quả vận hành

Sau hơn một năm tám tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, chuyển đổi số quốc gia đang chuyển trọng tâm từ xây dựng thể chế, hạ tầng và nền tảng sang khai thác dữ liệu, kết nối hệ thống và tạo ra hiệu quả có thể đo lường.
100 ngày tháo gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số

Kế hoạch hành động 100 ngày với 50 nhiệm vụ trọng tâm đặt yêu cầu rõ ràng: sản phẩm số phải vận hành thực tế, có người sử dụng và tạo ra thay đổi cụ thể trong quản trị, điều hành và phục vụ người dân, doanh nghiệp.

100 ngày, 50 nhiệm vụ và yêu cầu về sản phẩm đầu ra

Tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu triển khai Kế hoạch hành động 100 ngày nhằm xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số, tạo chuyển biến mạnh mẽ và đưa chuyển đổi số đi vào thực chất.

Cụ thể hóa yêu cầu này, Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW xác định 50 nhiệm vụ trọng tâm trong đợt cao điểm 100 ngày. Ngày 29/7, Thủ tướng Lê Minh Hưng ký Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo Chính phủ. Đợt cao điểm được triển khai trong 100 ngày làm việc, tập trung vào các nhiệm vụ cấp bách, chậm tiến độ, đồng thời tạo chuyển biến trong quản trị, điều hành và phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Điểm đáng chú ý là cách tiếp cận chuyển đổi số đang được thay đổi. Thay vì chỉ đánh giá một hệ thống đã được xây dựng hay chưa, yêu cầu mới đặt vào khả năng vận hành, mức độ sử dụng và giá trị tạo ra.

Theo đó, một nền tảng số chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi có khả năng kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu; dữ liệu được khai thác trong các quy trình nghiệp vụ; còn người dân, doanh nghiệp có thể cảm nhận được sự thay đổi thông qua thời gian và chi phí thực hiện công việc.

Ảnh minh họa có sử dụng AI
Ảnh minh họa có sử dụng AI

Dữ liệu và nền tảng dùng chung trở thành hạ tầng cốt lõi

Một trong những điểm nghẽn lớn của chuyển đổi số hiện nay là dữ liệu còn phân tán, thiếu kết nối và chưa được khai thác hiệu quả. Tình trạng đầu tư các hệ thống riêng lẻ, chức năng trùng lặp cũng làm tăng chi phí đầu tư, vận hành và gây khó khăn cho việc liên thông.

Để xử lý vấn đề này, ngày 24/6/2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1132/QĐ-TTg ban hành tiêu chí, danh mục nền tảng số dùng chung quốc gia trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị.

Danh mục gồm 79 nền tảng, trong đó có 17 nền tảng dùng chung cho các ngành, lĩnh vực. Các nền tảng phải bảo đảm khả năng kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu và cung cấp dữ liệu, chỉ số phục vụ giám sát, đo lường, đánh giá hoạt động cũng như hiệu quả sử dụng.

Đáng chú ý, sau khi nền tảng số dùng chung quốc gia được đưa vào vận hành, các cơ quan, tổ chức không đầu tư, xây dựng, mua sắm, thuê dịch vụ hoặc mở rộng các hệ thống có chức năng, mục tiêu và phạm vi sử dụng tương tự, trừ trường hợp đặc thù.

Cách tiếp cận này cho thấy chuyển đổi số đang được nhìn nhận dưới góc độ kiến trúc hệ thống và hiệu quả vận hành, thay vì tiếp tục phát triển các hệ thống độc lập. Mục tiêu không đơn thuần là có thêm phần mềm, mà là tổ chức lại cách các hệ thống kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu.

Thực tế tại ngành đường sắt và hàng không cho thấy giá trị của dữ liệu khi được đưa vào quy trình nghiệp vụ.

Tại Ga Hà Nội, hệ thống kiểm soát vé bằng sinh trắc học được thử nghiệm, kết nối với hệ thống bán vé điện tử và cơ sở dữ liệu căn cước công dân. Trong giai đoạn thử nghiệm từ ngày 1 đến ngày 10/8/2025, tốc độ soát vé trung bình đạt 3-5 giây/hành khách, nhanh hơn khoảng 50% so với quét mã QR; tỉ lệ nhận diện thành công trên 98% và hơn 92% hành khách được khảo sát đánh giá thuận tiện hoặc rất thuận tiện. Từ ngày 19/8/2025, hệ thống chính thức được vận hành tại Ga Hà Nội.

Tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, từ tháng 7/2026, kiosk sinh trắc học tại nhà ga T1 cho phép hành khách các chuyến bay nội địa hoàn tất xác thực trong khoảng 10 giây với 3 thao tác gồm quét thẻ lên máy bay, quét căn cước công dân gắn chip và nhận diện khuôn mặt. Mỗi ngày, hệ thống phục vụ thành công khoảng 2.000-3.000 lượt hành khách.

Những con số này cho thấy hiệu quả chuyển đổi số có thể được lượng hóa bằng các chỉ số vận hành cụ thể: thời gian xử lý, số bước thao tác, tỉ lệ nhận diện thành công và số lượng người sử dụng.

Từ số hóa thủ tục đến tối ưu chi phí vận hành

Trong lĩnh vực dịch vụ công, thước đo hiệu quả chuyển đổi số ngày càng rõ hơn thông qua thời gian xử lý, chi phí tuân thủ và mức độ thuận tiện.

Một số thủ tục đã được rút ngắn đáng kể. Nhóm thủ tục đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ dưới 6 tuổi giảm từ 21 ngày xuống còn 4 ngày. Nhóm thủ tục đăng ký khai tử, xóa đăng ký thường trú, trợ cấp mai táng, hỗ trợ chi phí mai táng giảm từ 25 ngày xuống còn 10 ngày.

Tại Hà Nội, Chiến dịch tăng tốc chuyển đổi số trong 100 ngày tập trung vào nhiều nhóm nhiệm vụ, trong đó có 5 thủ tục giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất.

Với tần suất khoảng 300.000 hồ sơ mỗi năm, việc đưa nhóm thủ tục này lên quy trình trực tuyến toàn trình được kỳ vọng rút ngắn thời gian thực hiện và giảm chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng.

Theo Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội, nếu triển khai đồng loạt trên toàn Thành phố, giải pháp này có thể giúp tiết kiệm khoảng 651,57 tỷ đồng chi phí tuân thủ thủ tục hành chính mỗi năm.

Một nhiệm vụ khác là chuẩn hóa và di trú dữ liệu về Kho dữ liệu dùng chung. Theo lộ trình, đến hết năm 2026, Hà Nội dự kiến hoàn thiện 93 nhóm dữ liệu.

Đối với khu vực hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ và vừa, Thành phố đặt mục tiêu hỗ trợ ít nhất 10.000 hộ kinh doanh và 100 làng nghề ứng dụng các nền tảng số trong chiến dịch 100 ngày.

Như vậy, bài toán chuyển đổi số không còn dừng ở việc "đưa thủ tục lên mạng". Hệ thống phải đồng thời giảm thao tác, khai thác dữ liệu đã có, hạn chế nhập liệu lặp lại và rút ngắn thời gian xử lý.

Tăng nguồn lực, siết chặt hiệu quả đầu tư

Từ ngày 1/7/2026, Luật Chuyển đổi số chính thức có hiệu lực. Cùng với đó là Nghị định số 224/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Chuyển đổi số, Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045 và Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số.

Bộ Khoa học và Công nghệ cũng ban hành các quy định về quản lý đầu tư, quản lý chất lượng dự án chuyển đổi số và bộ tiêu chí đánh giá mức độ sẵn sàng của thủ tục hành chính.

Nghị định số 224/2026/NĐ-CP đồng thời quy định các nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước cho chuyển đổi số và các cơ chế liên quan đến đầu tư, mua sắm, thuê dịch vụ, thử nghiệm trong chuyển đổi số. Chính sách dành tối thiểu 1% chi ngân sách nhà nước cho chuyển đổi số tạo thêm nguồn lực cho các nhiệm vụ trong lĩnh vực này.

Tuy nhiên, nguồn lực lớn hơn cũng đồng nghĩa với yêu cầu cao hơn về hiệu quả đầu tư. Một hệ thống được xây dựng nhưng ít người sử dụng, cơ sở dữ liệu không được cập nhật hoặc nền tảng có chức năng trùng lặp sẽ khó phát huy giá trị.

Việc xác định 79 nền tảng số dùng chung quốc gia vì vậy không chỉ nhằm tăng khả năng kết nối, mà còn góp phần hạn chế đầu tư trùng lặp và tối ưu chi phí vận hành.

Theo Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Phương, hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách và hành lang pháp lý về chuyển đổi số cơ bản đã được hoàn thiện. Trọng tâm hiện nay là tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả; đưa các nền tảng số, cơ sở dữ liệu dùng chung vào vận hành, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu và nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành.

Từ góc nhìn của tự động hóa và công nghệ, đây cũng là bước chuyển quan trọng: hệ thống số chỉ tạo ra giá trị khi dữ liệu được kết nối với quy trình, quy trình được tối ưu và kết quả được đo bằng các chỉ số vận hành cụ thể.

Đo chuyển đổi số bằng những thay đổi có thể định lượng

Từ đường sắt, hàng không đến dịch vụ công và hoạt động quản lý tại địa phương, hiệu quả chuyển đổi số đang có thể được lượng hóa bằng nhiều nhóm chỉ số.

Ở đường sắt và hàng không là thời gian kiểm soát, xác thực và số bước hành khách phải thực hiện. Với dịch vụ công là thời gian giải quyết và chi phí tuân thủ. Ở địa phương là số lượng dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối, số người sử dụng và số quy trình được thay đổi.

Những chỉ số này giúp chuyển trọng tâm đánh giá từ câu hỏi "đã triển khai hay chưa" sang "triển khai có tạo ra thay đổi hay không".

Đây cũng là tinh thần của Kế hoạch 100 ngày: quản trị theo sản phẩm đầu ra, mức độ sử dụng thực tế và giá trị mang lại, thay vì chỉ dựa vào tiến độ hoàn thành nhiệm vụ.

Khi đợt cao điểm kết thúc, tỉ lệ hoàn thành nhiệm vụ sẽ vẫn là một chỉ số quan trọng. Tuy nhiên, cần đặt chỉ số này bên cạnh những kết quả thực tế: sản phẩm đã được đưa vào vận hành hay chưa; dữ liệu có được kết nối, khai thác và tái sử dụng hay không; có bao nhiêu người sử dụng; thời gian và chi phí thực hiện công việc có giảm hay không.

100 ngày chỉ là một giai đoạn trong quá trình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW. Thước đo cuối cùng của chuyển đổi số không nằm ở số lượng hệ thống được xây dựng, mà ở dữ liệu được kết nối, quy trình được tối ưu, sản phẩm được sử dụng và giá trị thực tế được tạo ra cho người dân, doanh nghiệp và bộ máy quản lý.

Hà Anh

Đường dẫn bài viết: https://tudonghoangaynay.vn/chuyen-doi-so-tang-toc-tu-xay-dung-he-thong-sang-do-hieu-qua-van-hanh-23363.htmlIn bài viết

Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2024 https://tudonghoangaynay.vn/ All right reserved.