| Để bứt phá xuất khẩu, doanh nghiệp cần tận dụng thương mại điện tử |
Ngày 23/10/2026, Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh (ITPC) phối hợp với Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) tổ chức Hội thảo “Hiệp định CEPA Việt Nam - UAE: “Tiềm năng xuất khẩu vào thị trường Trung Đông - Châu Phi cho doanh nghiệp Việt Nam”. Hội thảo nhằm hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp cập nhật kịp thời các cam kết trọng tâm của Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam - UAE (CEPA), tận dụng hiệu quả các ưu đãi về thuế quan cùng quy tắc xuất xứ hàng hóa, qua đó chủ động nắm bắt cơ hội tiếp cận và đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sang thị trường UAE, khối GCC, khu vực Trung Đông và Châu Phi.
Tiềm năng xuất khẩu vào thị trường UAE cho doanh nghiệp Việt
Phát biểu khai mạc tại hội thảo, ông Lê Anh Hoàng - Phó Giám đốc ITPC nhấn mạnh: “Trong bối cảnh thương mại quốc tế nhiều biến động, việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do là yêu cầu cấp thiết đối với doanh nghiệp Việt Nam. Trong đó, Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) giữ vai trò là thị trường giàu tiềm năng, đồng thời là trung tâm thương mại, logistics và trung chuyển chiến lược mở ra khu vực Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (GCC), Trung Đông và Châu Phi. Theo số liệu của Cục Hải quan tổng hợp, năm 2025, kim ngạch thương mại song phương đạt khoảng 6,55 tỷ USD (trong đó xuất khẩu của Việt Nam đạt hơn 5,9 tỷ USD); trong 6 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch hai chiều đạt khoảng 3,157 tỷ USD (tăng 0,2% so với cùng kỳ), song xuất khẩu của Việt Nam sang UAE lại giảm 16,4%”.
![]() |
| Ông Lê Anh Hoàng - Phó Giám đốc ITPC phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Đạm Lê Quang. |
Đại diện Lãnh đạo ITPC lưu ý rằng các ưu đãi thuế quan không tự động chuyển thành đơn hàng nếu doanh nghiệp chưa thực sự am hiểu và chủ động đáp ứng các quy định nghiêm ngặt về quy tắc xuất xứ, chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O), tiêu chuẩn chất lượng thị trường, cũng như năng lực thiết lập kênh phân phối chuyên nghiệp. Nhằm giải quyết vấn đề chuyển hóa cơ hội thành kết quả kinh doanh, hội thảo tập trung cung cấp cho cộng đồng doanh nghiệp 4 nội dung trọng tâm bao gồm: Phân tích các cam kết cơ bản của Hiệp định CEPA gắn với cơ hội mở rộng xuất khẩu; chiến lược lựa chọn thị trường, đối tác và kênh phân phối từ UAE vươn sang khu vực GCC, Trung Đông và châu Phi; phương thức tận dụng ưu đãi thuế quan thông qua đáp ứng quy tắc xuất xứ và C/O; cùng định hướng các giải pháp hỗ trợ, chương trình xúc tiến thương mại chuyên biệt tại các thị trường này.
Trình bày tham luận tại Hội thảo, ông Phạm Bình An - Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP. Hồ Chí Minh tập trung phân tích toàn diện bức tranh kinh tế của UAE, bóc tách nội hàm các cam kết mang tính bước ngoặt của CEPA, qua đó định hướng chiến lược cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập hiệu quả, an toàn vào thị trường khu vực Trung Đông.
Đánh giá về vị thế của đối tác, ông Phạm Bình An chỉ rõ: “UAE đang sở hữu quy mô kinh tế đầy ấn tượng với GDP năm 2025 đạt 517,7 tỷ USD và duy trì đà tăng trưởng thực tế ở mức 6,2%. Điểm sáng mang tính chiến lược của quốc gia này là việc chuyển đổi thành công sang nền kinh tế phi dầu mỏ, hiện chiếm tới 77% GDP (khoảng 398 tỷ USD), xoay quanh các trụ cột tài chính, logistics, bán lẻ và công nghệ cao. Bên cạnh đó, với đặc thù dân số có tới 88,5% là người nước ngoài nhập cư và điều kiện tự nhiên sa mạc khiến diện tích đất nông nghiệp chưa đầy 1%, UAE bắt buộc phải nhập khẩu từ 85% đến 90% nhu cầu lương thực, thực phẩm hàng ngày”.
![]() |
| Ông Phạm Bình An - Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP. Hồ Chí Minh trình bày tham luận tại Hội thảo. Ảnh: Đạm Lê Quang. |
Đi sâu vào nền tảng hợp tác song phương, trong bài tham luận, ông Phạm Bình An nêu bật những con số tăng trưởng tích cực khi kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang UAE trong giai đoạn 2021 - 2025 liên tục tăng trưởng, cán mốc 5,91 tỷ USD vào năm 2025 với sự bứt phá của nhiều nhóm hàng trọng điểm như sắt thép, hạt điều, phương tiện vận tải và hàng rau quả. Đặc biệt, việc Hiệp định CEPA chính thức đi vào thực thi đang tạo ra một khuôn khổ pháp lý toàn diện, sâu rộng. Theo cam kết, phía UAE tiến tới xóa bỏ thuế quan đối với khoảng 99% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Ở chiều ngược lại, nền tảng hiệp định cũng đang khơi thông mạnh mẽ dòng vốn đầu tư trực tiếp từ các quỹ tài chính lớn của UAE đổ vào các dự án hạ tầng, năng lượng sạch và chuyển đổi số tại Việt Nam.
Doanh nghiệp Việt cần lưu ý gì khi xuất khẩu hàng hóa sang UAE
Đứng trước những cơ hội lớn, ông Phạm Bình An đã đưa ra những khuyến cáo về công tác thực thi pháp luật thương mại. Cộng đồng doanh nghiệp không được nhầm lẫn giữa việc hưởng ưu đãi giảm thuế với khả năng thông quan hàng hóa dễ dàng, bởi hệ thống hàng rào kỹ thuật (TBT), các biện pháp kiểm dịch và an toàn thực phẩm (SPS) của UAE vẫn được áp dụng vô cùng khắt khe. Điển hình đối với tiêu chuẩn Halal.
Đồng thời, ông Phạm Bình An lưu ý đây không đơn thuần là việc sản phẩm không chứa thịt heo, mà là yêu cầu tuân thủ khép kín toàn bộ chuỗi cung ứng từ nguồn gốc nguyên liệu, dây chuyền sản xuất chống nhiễm chéo cho đến khâu lưu kho và vận chuyển. Hơn nữa, chứng nhận Halal của doanh nghiệp bắt buộc phải được cơ quan có thẩm quyền của UAE chính thức công nhận (National Halal Mark) thì hàng hóa mới đủ điều kiện lưu thông.
Nhằm cụ thể hóa chiến lược thực thi, ông Phạm Bình An đề nghị: “Các doanh nghiệp xuất khẩu phải khẩn trương thiết lập quy trình kiểm soát nội bộ 6 bước chặt chẽ trước khi xuất hàng. Quy trình này đòi hỏi sự chuẩn xác trong việc xác định mã HS, rà soát lộ trình cắt giảm thuế, hoàn thiện chứng từ xuất xứ (C/O) nội khối, thực hiện kiểm nghiệm đánh giá chuẩn Halal, đồng thời phải thẩm định kỹ lưỡng năng lực pháp lý của đối tác. Đáng lưu ý, dù UAE là trạm trung chuyển hàng đầu khu vực, hàng hóa Việt Nam khi tái xuất sang nước thứ ba sẽ không đương nhiên được hưởng ưu đãi thuế từ CEPA”.
Chia sẻ góc nhìn trực tiếp từ địa bàn phụ trách, ông Trương Xuân Trung - Trưởng Thương vụ Việt Nam tại UAE nhận định: “Các ưu đãi thuế quan từ CEPA không chỉ mang lại lợi ích cắt giảm thuần túy. Ngoài ra, đây là đòn bẩy chiến lược mở ra cơ hội để doanh nghiệp định vị UAE dưới 3 vai trò tích hợp với một thị trường tiêu thụ trực tiếp đầy tiềm năng, một trung tâm logistics phân phối hiện đại và là đầu mối trung chuyển quan trọng vươn sang các khu vực lân cận”.
![]() |
| Ông Trần Ngọc Bình - Trưởng phòng Quản lý Xuất Nhập khẩu Khu vực III (Cục Xuất Nhập khẩu - Bộ Công Thương) trình bày tham luận tại Hội thảo. Ảnh: Đạm Lê Quang. |
Về định hướng mở rộng không gian kinh tế, ông Trương Xuân Trung đề xuất chiến lược thâm nhập theo ba nhóm thị trường trọng điểm. Trước hết, thị trường nội địa UAE cần được xem là địa bàn ưu tiên hàng đầu để thử nghiệm, kiểm chứng độ thích ứng và định vị thương hiệu cho các nhóm hàng thế mạnh của Việt Nam như: Nông sản tươi, thực phẩm chế biến, dệt may, da giày và đồ nội thất. Tiếp đó, doanh nghiệp có thể khai thác sâu rộng các quốc gia thuộc Hội đồng hợp tác vùng Vịnh (GCC) thông qua việc tận dụng tối đa cơ chế liên minh thuế quan và quy định hải quan nội khối thống nhất. Nhóm thứ ba là không gian rộng lớn tại khu vực Trung Đông mở rộng và Châu Phi, nơi có sự phân hóa cao, cần doanh nghiệp áp dụng chiến lược thâm nhập theo từng cụm địa lý và ngành hàng chuyên biệt gắn với các đầu mối uy tín nhằm tránh tình trạng đầu tư dàn trải, thiếu trọng tâm.
Nhằm hiện thực hóa chiến lược này, ông Trương Xuân Trung khuyến nghị cộng đồng doanh nghiệp cần linh hoạt vận dụng các mô hình kênh phân phối, bao gồm xuất khẩu trực tiếp, thông qua hệ thống trung gian tại UAE, hoặc từng bước xây dựng cơ sở hạ tầng kho vận tại nước sở tại. Song song đó, tư duy kinh doanh cần có sự chuyển dịch căn bản từ việc tìm kiếm những khách hàng đơn lẻ sang thiết lập quan hệ với các đối tác đồng hành phát triển thị trường. Trọng tâm hướng tới là các nhà nhập khẩu chuyên ngành, hệ thống bán lẻ mang tầm vóc khu vực, các doanh nghiệp kho bãi tại khu thương mại tự do và những nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới.
Từ thực tiễn công tác xúc tiến thương mại, Trưởng Thương vụ Việt Nam tại UAE đề nghị doanh nghiệp chủ động triển khai đồng bộ tám nhóm nội dung cốt lõi. Trong đó, khâu then chốt là rà soát kỹ mã HS để đối chiếu biểu thuế, tính toán chính xác giá giao hàng đến thị trường đích, chuẩn hóa hồ sơ kỹ thuật, xác định thị trường ưu tiên dựa trên năng lực sản xuất thực tế và bám sát sự hỗ trợ của các cơ quan đại diện. “Việc doanh nghiệp cần làm chính là chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy bán hàng theo từng chuyến sang xây dựng chuỗi cung ứng bền vững; tuân thủ nghiêm ngặt quy định về chứng nhận Halal, vệ sinh an toàn thực phẩm; tôn trọng sâu sắc văn hóa kinh doanh Hồi giáo và siết chặt các điều khoản thanh toán”, ông Trương Xuân Trung lưu ý.
![]() |
| Hội thảo Hiệp định CEPA Việt Nam - UAE: “Tiềm năng xuất khẩu vào thị trường Trung Đông - Châu Phi cho doanh nghiệp Việt Nam” được tổ chức ngày 23/10/2026 tại TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: Đạm Lê Quang. |
Làm rõ khía cạnh kỹ thuật mang tính quyết định để hàng hóa Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế quan, ông Trần Ngọc Bình - Trưởng phòng Quản lý Xuất Nhập khẩu Khu vực III (thuộc Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương) nhấn mạnh: “Việc nắm vững và đáp ứng chuẩn xác Thông tư số 24/2026/TT-BCT ngày 5/5/2026 của Bộ Công Thương là điều kiện tiên quyết để cộng đồng doanh nghiệp hiện thực hóa các cam kết cắt giảm thuế. Đáng chú ý, để bảo đảm tối đa quyền lợi cho doanh nghiệp trong giai đoạn chuyển tiếp, cơ quan chức năng đang áp dụng cơ chế cấp hồi tố chứng nhận xuất xứ (C/O) cho các lô hàng phát sinh từ ngày Hiệp định chính thức có hiệu lực, giúp các hoạt động thương mại không bị gián đoạn ưu đãi”.
Đi sâu vào hệ thống tiêu chí xuất xứ, ông Trần Ngọc Bình làm rõ cấu trúc phân loại bao gồm hàng hóa có xuất xứ thuần túy (WO), hàng hóa sản xuất toàn bộ từ nguyên liệu nội khối (PE) và nhóm hàng hóa có xuất xứ không thuần túy tuân thủ Quy tắc cụ thể mặt hàng (PSR). Tiêu chí PSR được vận hành dựa trên ba trụ cột: chuyển đổi mã số hàng hóa (CTC), hàm lượng giá trị khu vực (QVC) tính trên giá xuất xưởng với ngưỡng áp dụng phổ biến là 35%, và công đoạn gia công chế biến cụ thể (SP). “CEPA mang nhiều điểm thông thoáng vượt trội, điển hình là quy tắc De Minimis cho phép tỷ lệ nguyên liệu không có xuất xứ lên tới 20% trị giá xuất xưởng, áp dụng đồng bộ cho mọi chương hàng hóa. Cùng với cơ chế cộng gộp song phương, các ngành xuất khẩu mũi nhọn như dệt may (Chương 59 đến 63) và giày dép (Chương 64) sẽ được hưởng lợi lớn nhờ tiêu chí linh hoạt chuyển đổi mã số hàng hóa hoặc đạt ngưỡng QVC 35%, giảm bớt đáng kể các yêu cầu khắt khe so với những thị trường truyền thống khác”, ông Trần Ngọc Bình đánh giá.
“Doanh nghiệp cần rà soát kỹ Điều 11 của Thông tư 24/2026/TT-BCT về các công đoạn gia công, chế biến đơn giản. Những thao tác thuần túy như bảo quản sơ bộ, cấp đông, đóng gói, dán nhãn, phân loại, xay xát ngũ cốc hay pha loãng bằng nước đều không được công nhận xuất xứ, cho dù sản phẩm có sự thay đổi mã HS trên danh nghĩa. Về các yếu tố phụ trợ, phụ kiện và bao bì bán lẻ sẽ được tính gộp khi áp dụng tiêu chí QVC nhưng không được xem xét đối với tiêu chí WO hay CTC. Đối với bao bì vận chuyển và các yếu tố trung gian phục vụ sản xuất, quy định nêu rõ sẽ hoàn toàn không tính vào xuất xứ của sản phẩm”, ông Trần Ngọc Bình lưu ý.
Về công tác quản lý và cấp phát chứng từ, mẫu C/O UAE-VN có thời hạn hiệu lực một năm và được vận hành đồng bộ trên Hệ thống eCoSys của Bộ Công Thương. Điểm sáng của Hiệp định là việc thừa nhận linh hoạt nhiều hình thức chứng từ như e-C/O nội địa, C/O cấp sau, cấp bản sao, cấp bản chứng thực và chấp thuận hóa đơn của bên thứ ba. Đồng thời, CEPA cũng mở ra lộ trình tự chứng nhận xuất xứ cho thương nhân đủ điều kiện, đặc biệt cho phép mọi nhà xuất khẩu được quyền tự chứng nhận đối với các lô hàng có trị giá từ 500 USD trở xuống.
Tại Hội thảo, bà Trần Xuân Trang - Trưởng phòng Xúc tiến phát triển ngoại thương và Thị trường trong nước (thuộc ITPC) dẫn chứng những số liệu vĩ mô ấn tượng: “Năm 2025, tổng kim ngạch thương mại phi dầu khí của UAE đạt khoảng 1.050 tỷ USD; bao gồm quy mô nhập khẩu xấp xỉ 800 tỷ USD cùng kim ngạch xuất khẩu và tái xuất đạt khoảng 228 tỷ USD. Đáng chú ý, tại các đầu mối trung chuyển của UAE, ước tính có tới 80% lượng hàng hóa nhập khẩu được tái xuất sang các quốc gia thứ ba tại Trung Đông, Châu Phi và châu Á. Hiện UAE là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam tại Tây Á, tiếp nhận hơn 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta vào khu vực”.
Nhìn nhận bối cảnh một cách khách quan, bà Trần Xuân Trang đánh giá: “Bên cạnh những trợ lực tích cực, cộng đồng doanh nghiệp vẫn cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng để vượt qua các rào cản thực tế. Đó là áp lực về chi phí và thời gian vận chuyển do khoảng cách địa lý, sự khác biệt về tiêu chuẩn kỹ thuật, yêu cầu Halal đặc thù, cùng các rủi ro trong thanh toán quốc tế và việc thiếu hụt thông tin thị trường cập nhật. Từ thực tế đó, ITPC xác định cần thiết lập một chiến lược xúc tiến thương mại chuyên biệt, bài bản và có tầm nhìn dài hạn. Trọng tâm của chiến lược là đồng hành cùng các doanh nghiệp Thành phố tập trung phát triển bốn nhóm ngành hàng xuất khẩu chủ lực: nông sản và thực phẩm chế biến; hàng dệt may; giày dép; hàng tiêu dùng và đồ gỗ nội thất”.
Đặc biệt, để tạo đòn bẩy kết nối giao thương trực tiếp (B2B), trong thời gian tới ITPC sẽ tổ chức các đoàn doanh nghiệp của TP. Hồ Chí Minh tham gia các hội chợ, triển lãm chuyên ngành quy mô lớn nhất thế giới. Tiêu biểu trong số đó là Triển lãm thực phẩm và đồ uống tại Dubai (quy tụ 8.500 doanh nghiệp đến từ 195 quốc gia) và Triển lãm chuyên ngành tại Cairo (Ai Cập) thu hút hơn 1.200 doanh nghiệp từ 51 quốc gia. Song song với các hoạt động xúc tiến trực tiếp, ITPC cũng sẽ duy trì các kênh kết nối số nhằm kịp thời cung cấp thông tin, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng mạng lưới phân phối và tháo gỡ những vướng mắc phát sinh trong quá trình khai mở thị trường mới.
Đường dẫn bài viết: https://tudonghoangaynay.vn/mo-rong-thi-truong-xuat-khau-cho-doanh-nghiep-viet-tai-trung-dong-va-chau-phi-24223.htmlIn bài viết
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2024 https://tudonghoangaynay.vn/ All right reserved.