Ngày 7/11/2026, tại Hà Nội, Tạp chí Xây dựng tổ chức Hội thảo “Triển khai quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về trụ sạc, trạm sạc xe điện: Yêu cầu kỹ thuật và thực tiễn phát triển hạ tầng sạc giao thông đường bộ”. Hội thảo tập trung trao đổi về tình hình phát triển hạ tầng sạc tại các tuyến cao tốc, yêu cầu áp dụng quy chuẩn kỹ thuật mới và những giải pháp bảo đảm an toàn, đồng bộ trong quá trình đầu tư, vận hành.
![]() |
| Quang cảnh buổi hội thảo |
Hạ tầng sạc cao tốc từng bước được mở rộng
Hạ tầng sạc xe điện tại các trạm dừng nghỉ cao tốc đang được triển khai với nhiều quy mô và tiến độ khác nhau. Theo số liệu Cục Đường bộ Việt Nam cung cấp tại hội thảo, hiện có 10 trạm dừng nghỉ trên các tuyến cao tốc đã cung cấp dịch vụ sạc, gồm 6 trạm trên tuyến Bắc - Nam phía Đông và 4 trạm trên các tuyến khác.
Tại ba trạm dừng nghỉ trên cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, đã có 68/136 vị trí sạc đi vào vận hành, sử dụng trụ sạc một chiều (DC) công suất từ 60-250 kW. Trên tuyến Hà Nội - Thái Nguyên, trạm dừng nghỉ Hải Đăng đã đưa vào khai thác đủ 20 vị trí sạc ở một bên tuyến, sử dụng trụ công suất 120 kW, đầu nối CCS2; bên còn lại cũng được thiết kế 20 vị trí và đang trong quá trình hoàn thiện.
Đối với tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông, trạm Mai Sơn - Quốc lộ 45 đã vận hành 20 vị trí sạc mỗi bên; các trạm Hàm Nghi - Vũng Áng và Vũng Áng - Bùng đã vận hành 12 vị trí sạc mỗi bên. Trong nhóm 21 trạm được Cục Đường bộ Việt Nam theo dõi tiến độ trên tuyến này, có 17 trạm đang thi công hạ tầng sạc, với quy mô từ 10-26 vị trí mỗi bên trạm, công suất trụ sạc 120-360 kW.
Tuy nhiên, tiến độ triển khai tại nhiều địa điểm vẫn cần được đẩy nhanh. Trên tuyến Nội Bài - Lào Cai, 6 trạm dừng nghỉ hiện hữu đang thực hiện thủ tục đầu tư hạ tầng sạc. Tại trạm Km67+100 trên cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, phương án thiết kế bố trí 10 vị trí sạc, sử dụng trụ công suất 180 kW, dự kiến hoàn thành trong năm 2027.
Những số liệu này cho thấy phát triển hạ tầng sạc không chỉ là bài toán lắp đặt thiết bị mà còn phụ thuộc vào khả năng tổ chức mặt bằng, cấp điện và phối hợp đầu tư. Với các trạm đang khai thác, việc bổ sung hệ thống sạc có thể đòi hỏi tổ chức lại bãi đỗ, đầu tư đường dây, trạm biến áp hoặc rà soát trách nhiệm giữa các bên trong hợp đồng khai thác. Đối với các tuyến cao tốc đang xây dựng, vị trí bố trí trụ sạc và phương án cấp điện cần được tính toán ngay từ khâu thiết kế.
Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Phạm Văn Dùng, Phó Tổng biên tập Tạp chí Xây dựng, nhấn mạnh quy mô đầu tư cần căn cứ vào loại phương tiện, lưu lượng xe theo từng thời điểm và thời gian dừng nghỉ thực tế. Bên cạnh số lượng vị trí sạc và công suất trụ, khu vực chờ cũng cần được tính toán phù hợp để đáp ứng nhu cầu sử dụng, nhất là trong những thời điểm lưu lượng phương tiện tăng cao.
Một vấn đề khác cần được làm rõ là khả năng tương thích giữa xe và trụ sạc, quy trình kiểm tra an toàn tại hiện trường trước khi đóng điện và phương pháp đo lường điện năng tiêu thụ của từng phiên sạc để làm căn cứ thanh toán. Với các trạm tích hợp điện mặt trời và pin lưu trữ, chủ đầu tư cần đánh giá khả năng hỗ trợ công suất khi nhu cầu sạc tăng cao, đồng thời tính toán hiệu quả kinh tế và chi phí đầu tư.
QCVN 32:2026/BCT và những vấn đề cần tiếp tục tháo gỡ
Cùng với yêu cầu mở rộng mạng lưới, việc chuẩn hóa thiết bị và hệ thống vận hành có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng, an toàn của hạ tầng sạc. Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Nghĩa - Trường Đại học Giao thông vận tải, Việt Nam hiện có 23 tiêu chuẩn quốc gia liên quan đến trụ, trạm sạc, dây cáp, cụm đóng cắt, ổ cắm, phích cắm và thiết bị đo điện. Trong đó, bộ TCVN 13078:2020 được xây dựng trên cơ sở chuyển hóa các tiêu chuẩn IEC 61851 về hệ thống sạc có dây.
![]() |
| PGS.TS. Nguyễn Văn Nghĩa chia sẻ, tại Việt Nam hiện có 23 tiêu chuẩn quốc gia liên quan đến trụ, trạm sạc, dây cáp, cụm đóng cắt, ổ cắm, phích cắm và thiết bị đo điện. Ảnh: Duyên Nguyễn |
Để bảo đảm khả năng tương thích giữa phương tiện và thiết bị sạc của nhiều nhà sản xuất, cần chú trọng đồng bộ ba nhóm tiêu chuẩn về thiết bị cấp điện, đầu nối và giao tiếp giữa xe với trụ sạc. Các chuẩn đầu nối như Type 2, CCS2, GB/T, CHAdeMO cùng những giao thức truyền thông có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm phương tiện có thể sử dụng mạng lưới sạc đa thương hiệu.
Đáng chú ý, QCVN 32:2026/BCT được ban hành theo Thông tư 61/2026/TT-BCT ngày 5/10/2026 của Bộ Công Thương, có hiệu lực từ ngày 1/7/2027. Quy chuẩn áp dụng đối với trạm sạc tại khu vực công cộng, nơi trông giữ xe tập trung, trạm dừng nghỉ và các khu vực tương tự; đặt ra yêu cầu về khả năng dùng chung, an toàn kỹ thuật và minh bạch trong đo lường, thanh toán.
Theo phân tích của chuyên gia, hệ thống trạm sạc phải được thiết kế đồng bộ từ cấp điện, phân phối điện, trụ sạc, thiết bị bảo vệ, nối đất, chống sét đến giám sát, phòng cháy, chữa cháy, chiếu sáng, biển báo và tổ chức giao thông. Các chức năng bảo vệ cần bảo đảm khả năng tự động ngắt điện khi xảy ra sự cố như cháy, chạm đất, va chạm, ngập nước, quá nhiệt hoặc hư hỏng cách điện. Đồng thời, dữ liệu đo lường và giao dịch phải bảo đảm độ chính xác, công khai giá và có khả năng truy xuất.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai vẫn còn những khoảng trống cần được giải quyết. Một trong những vấn đề nổi bật là trụ sạc lắp đặt bên trong công trình xây dựng như tầng hầm, tầng nửa hầm và nhà để xe nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của QCVN 32:2026/BCT. Trong khi đó, các quy định chuyên ngành về xây dựng và phòng cháy, chữa cháy chưa có hướng dẫn riêng, đầy đủ cho loại hình này.
Bên cạnh đó, việc thiết kế trạm sạc phải đồng thời tuân thủ nhiều quy chuẩn thuộc các lĩnh vực khác nhau, nhưng chưa có tài liệu hướng dẫn kỹ thuật tổng hợp. Các tiêu chuẩn về đầu nối, giao tiếp xe - trụ, đo lường thanh toán liên thông và quản lý phụ tải thông minh cũng cần tiếp tục được cập nhật, hoàn thiện.
Từ những bất cập trên, PGS.TS. Nguyễn Văn Nghĩa kiến nghị ưu tiên xây dựng quy chuẩn, tiêu chuẩn riêng về an toàn trụ sạc trong công trình xây dựng; rà soát, cập nhật bộ TCVN 13078 theo các phiên bản IEC hiện hành, đồng thời chuyển hóa các tiêu chuẩn quốc tế về đầu nối và giao tiếp thành tiêu chuẩn quốc gia. Việc chuẩn hóa dữ liệu đo lường, thanh toán và khuyến khích kết nối mạng lưới sạc đa thương hiệu cũng cần được quan tâm.
Một vấn đề khác được đặt ra là cách áp dụng quy chuẩn đối với các trạm đã hoạt động trước thời điểm QCVN 32:2026/BCT có hiệu lực nhưng sau đó tiếp tục lắp đặt thêm trụ sạc hoặc nâng công suất. Theo ông Phạm Văn Dùng, trước ngày 1/1/2027 là thời hạn hoàn thiện hệ thống sạc đối với các trạm dừng nghỉ thuộc diện chuyển tiếp theo QCVN 43:2024/BGTVT. Vì vậy, cần làm rõ trách nhiệm của các bên và hướng dẫn cụ thể đối với từng trường hợp để tránh lúng túng trong quá trình thực hiện.
Tích hợp năng lượng tái tạo, hướng tới trạm sạc thông minh
Bên cạnh yêu cầu chuẩn hóa thiết bị và bảo đảm an toàn, bài toán năng lượng cũng là nội dung đáng chú ý tại hội thảo. Khi số lượng phương tiện điện gia tăng, nhu cầu sạc tập trung tại các trạm dừng nghỉ, khu đô thị, bãi đỗ xe và khu công nghiệp có thể tạo áp lực lớn lên hệ thống điện, nhất là vào những khung giờ cao điểm.
Tại tham luận về trạm sạc tích hợp năng lượng tái tạo, PGS.TS. Lê Văn Nghĩa, Đại học Bách khoa Hà Nội, cho rằng điện hóa phương tiện chưa đủ để bảo đảm mục tiêu giao thông xanh nếu nguồn năng lượng cung cấp cho phương tiện vẫn phụ thuộc chủ yếu vào điện lưới. Do đó, phát triển hạ tầng sạc cần đi cùng việc sử dụng năng lượng sạch và ứng dụng các giải pháp quản lý thông minh.
Theo đó, mô hình trạm sạc tích hợp có thể kết hợp điện mặt trời (PV), hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS), điện lưới và thiết bị sạc xe điện. Điện mặt trời có thể được lắp đặt trên mái che, mái nhà hoặc khu vực bãi đỗ; hệ thống pin lưu trữ giúp tích trữ phần điện dư, bổ sung nguồn khi sản lượng điện mặt trời suy giảm và hỗ trợ giảm công suất phụ tải đỉnh.
Đặc biệt, hệ thống quản lý năng lượng (EMS) đóng vai trò giám sát, dự báo và điều phối nguồn điện, phụ tải theo nhu cầu thực tế. Thông qua dữ liệu về thời tiết, sản lượng điện mặt trời, trạng thái pin lưu trữ, lịch phương tiện đến sạc và giá điện, EMS có thể tối ưu phương án phân phối năng lượng, điều chỉnh công suất sạc và thời điểm nạp, xả pin.
Theo chuyên gia, việc lựa chọn cấu hình trạm sạc không nên chỉ dựa trên công suất điện mặt trời hoặc chi phí đầu tư ban đầu. Chủ đầu tư cần đánh giá đồng thời dung lượng lưu trữ, công suất sạc, hiệu suất hệ thống, chi phí vận hành, thay thế và bảo dưỡng thiết bị trong toàn bộ vòng đời dự án.
Giải pháp tích hợp năng lượng tái tạo có thể được nghiên cứu, triển khai tại nhiều không gian như bãi đỗ xe đô thị, trung tâm thương mại, depot xe buýt, khu logistics, khu công nghiệp và các trạm sạc liên tỉnh. Tuy nhiên, hiệu quả phụ thuộc vào điều kiện địa điểm, diện tích lắp đặt, khả năng đấu nối, đặc điểm phụ tải và cơ chế giá điện.
Từ góc độ dài hạn, trạm sạc cần được phát triển như một nút năng lượng thông minh, kết nối nguồn điện tái tạo, hệ thống lưu trữ, điện lưới và phương tiện giao thông. Đây là hướng tiếp cận góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, giảm áp lực lên hệ thống điện và hạn chế phát thải gián tiếp trong quá trình vận hành phương tiện điện.
Những vấn đề được trao đổi tại hội thảo cho thấy, tốc độ phát triển phương tiện điện cần song hành với năng lực đáp ứng của hạ tầng sạc. Việc hoàn thiện quy chuẩn, tháo gỡ khoảng trống pháp lý và tăng cường phối hợp giữa các ngành sẽ là nền tảng để hình thành mạng lưới sạc an toàn, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh của giao thông đường bộ.