Một trường đại học bước vào kỷ nguyên số không chỉ bằng phòng thí nghiệm, dữ liệu hay trí tuệ nhân tạo. Cuộc chuyển đổi khó hơn nằm ở con người, biết kiểm chứng trước khi đặt niềm tin, chịu trách nhiệm khi phát ngôn, biết minh bạch, lắng nghe và chấp nhận phản biện. Thông điệp mới của Hiệu trưởng Trường Đại học Điện lực gợi ra một quan niệm đáng suy ngẫm như thế.
![]() |
Ngày 18/8/2026, Website của Trường Đại học Điện lực (EPU) công bố bài viết “Giữ vững bản lĩnh số, lan tỏa trách nhiệm xây dựng văn hóa số Trường Đại học Điện lực” của PGS.TS. Đinh Văn Châu, Hiệu trưởng nhà trường.
Trước hết, đây là thông điệp của người đứng đầu một tổ chức giáo dục đại học nhằm khẳng định sự chủ động nhận diện, phòng ngừa và chấn chỉnh hành vi chia sẻ, phát tán thông tin sai sự thật; nâng cao ý thức, trách nhiệm của viên chức, người lao động và sinh viên trong sử dụng mạng xã hội, góp phần xây dựng không gian mạng an toàn, lành mạnh, thượng tôn pháp luật, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và gìn giữ hình ảnh Trường Đại học Điện lực.
Bề mặt của văn bản là những nguyên tắc ứng xử trên không gian mạng. Nhưng nếu chỉ đọc nó như danh mục những điều được làm và không được làm thì có lẽ đã bỏ qua phần đáng chú ý hơn, đó là cách một cơ sở giáo dục nhìn vào vấn đề sự thật trong thời đại mà việc tạo ra và phát tán thông tin ngày càng dễ dàng.
Một đoạn video có thể bị tách khỏi bối cảnh. Ảnh chụp màn hình không rõ nguồn có thể lan qua hàng trăm nhóm trò chuyện. Giọng nói, hình ảnh có thể bị làm giả. Một mô hình trí tuệ nhân tạo tạo sinh có thể viết rất mạch lạc nhưng không vì thế mà nội dung đã được kiểm chứng. Vì thế, điểm đáng chú ý trong thông điệp của EPU không phải câu nhắc quen thuộc “hãy cẩn thận trên mạng”, mà là nỗ lực biến sự cẩn trọng thành thao tác nhận thức cụ thể. 5 câu hỏi trước khi đăng, chia sẻ hoặc bình luận là: nguồn ở đâu, nội dung có đầy đủ không, mình có thẩm quyền công bố không, hệ quả là gì, mình có sẵn sàng chịu trách nhiệm không? thực chất là một quy trình kiểm chứng rút gọn. Nó gần với kỷ luật nghề nghiệp của người làm báo, nhưng cũng là bài học căn bản về tư cách công dân số.
Có một câu trong bài viết đáng được ghi nhớ: “Tốc độ không thể thay thế độ chính xác; cảm xúc không thể thay thế chứng cứ”. Nền tảng số thường tưởng thưởng cho tốc độ và khả năng gây phản ứng; còn sự thật lại cần thời gian, ngữ cảnh, kiểm chứng. Giáo dục vì thế phải dạy cho người trẻ một năng lực tưởng rất cũ nhưng ngày càng quý, đó là biết chậm lại đúng lúc.
Giáo dục Đại học không thể chỉ đào tạo người biết vận hành hệ thống hay khai thác trí tuệ nhân tạo; còn phải hình thành khả năng phân biệt dữ kiện với suy đoán, thông tin với thao túng, cái đã biết với cái chưa thể xác quyết. Đó là một dạng “hạ tầng nhận thức”. Thiếu nó, công nghệ đôi khi chỉ khiến sai lầm chạy nhanh hơn.
![]() |
| Sinh viên Trường Đại học Điện lực tham quan thực địa |
Bài viết của Hiệu trưởng EPU đặt ra nhiều giới hạn như không bịa đặt, cắt ghép gây hiểu sai, làm lộ dữ liệu, mạo danh hay dùng công nghệ giả mạo sâu để khuếch đại nội dung vi phạm. Những yêu cầu ấy nằm trong hành lang pháp lý hiện hành; Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
Nhưng trường học mà chỉ nhắc lại điều cấm của pháp luật thì chưa làm tròn chức năng giáo dục. Điều cần hơn là chỉ ra vì sao một hành vi gây hại và vì sao con người phải tự đặt giới hạn trước khi chế tài xuất hiện.
Ở điểm này, khái niệm trách nhiệm trong thông điệp được mở rộng rất cụ thể. Người học chịu trách nhiệm với nội dung mình đăng. Giảng viên phải thận trọng hơn vì chức danh nghề nghiệp có thể làm tăng trọng lượng của phát ngôn. Người quản trị các trang, nhóm đông người theo dõi nắm một dạng quyền lực phân phối. Nhưng người đứng đầu đơn vị cũng không thể đứng ngoài vì phải giải thích kịp thời, duy trì đối thoại, không để khoảng trống thông tin kéo dài, bảo vệ người phản ánh thiện chí và tôn trọng quyền giải trình của bên liên quan.
Nếu chỉ đòi người dưới “phát ngôn có trách nhiệm” mà bộ máy thiếu thông tin kịp thời, thiếu kênh phản hồi đáng tin, kỷ luật thông tin rất dễ bị hiểu thành kỷ luật im lặng. Bài viết này đặt ràng buộc ngược lên nhà trường là phải tiếp nhận, đối thoại, phản hồi và bảo vệ người góp ý thiện chí. Kỷ luật thông tin chỉ thuyết phục khi đi cùng kỷ luật giải trình.
Có một mệnh đề rất đáng chú ý trong thông điệp này. Đó là phòng ngừa bền vững không chỉ là ngăn chặn thông tin xấu mà còn phải xây dựng tổ chức trong sạch, quản trị minh bạch, thực hành dân chủ, giữ kỷ luật và kịp thời giải quyết những vấn đề chính đáng. Nói theo ngôn ngữ quản trị là đừng chỉ xử lý tín hiệu mà phải xử lý cả nguyên nhân tạo ra tín hiệu.
Tin đồn thường sinh sôi tốt trong khoảng trống thông tin. Bất mãn dễ cực đoan khi con người cảm thấy không có cửa để nói. Khủng hoảng truyền thông nhiều khi chỉ là phần nổi của vấn đề quản trị bị để quá lâu dưới mặt nước. Vì vậy, bảo vệ danh tiếng một trường đại học không thể đồng nhất với bảo vệ sự yên ắng. Danh tiếng bền vững hình thành khi thực tế bên trong đủ tốt để chịu được ánh sáng từ bên ngoài.
![]() |
| Sinh viên EPU |
Phần đáng giá nhất của thông điệp có lẽ nằm ở cách nó vạch ranh giới giữa thông tin sai trái và phản biện. Văn bản khẳng định chấn chỉnh thông tin sai không đồng nghĩa với hạn chế quyền phản ánh, góp ý, khiếu nại, tố cáo, tự do ngôn luận hay tự do học thuật trong khuôn khổ pháp luật; nhà trường nói rõ việc nêu câu hỏi khó, phát hiện bất cập và tranh luận học thuật có căn cứ là điều được khuyến khích.
Ranh giới này đặc biệt quan trọng trong đại học. Một trường đại học mà mọi người chỉ nói điều dễ nghe có thể rất bình yên, nhưng chưa chắc đã tốt. Học thuật lớn lên từ hoài nghi có phương pháp. Quản trị tốt lớn lên từ khả năng nghe được tin xấu trước khi nó biến thành khủng hoảng. Phản biện, nếu dựa trên chứng cứ và giữ phẩm cách đối thoại, không phải vết nứt của tổ chức; nhiều khi nó chính là van an toàn.
Nhưng quyền phản biện cũng không phải giấy phép để quy chụp con người, phóng đại dữ kiện hay huy động đám đông “xét xử” trên mạng. Thông điệp của EPU qua bài viết của Hiệu trưởng nhà trường yêu cầu phân biệt sự kiện với nhận định, tập trung vào vấn đề thay vì công kích cá nhân, bảo đảm quyền giải trình và chủ động đính chính khi sai. Hai phía, người phản ánh và người bị phản ánh, được kéo về cùng một mặt phẳng của chứng cứ.
Nhìn từ hoạt động quản trị công khai của PGS.TS. Đinh Văn Châu, thông điệp ấy có những dấu hiệu nhất quán với thực tiễn. Ngày 4/10/2024, tại hội nghị đối thoại giữa lãnh đạo với đại diện viên chức, người lao động, ông Châu cho biết đây là năm thứ ba liên tiếp hoạt động này được tổ chức. Mùa hè 2026, trước thời điểm công bố thông điệp văn hóa số, EPU tiếp tục đăng tải các cuộc đối thoại trực tiếp của Hiệu trưởng với Khoa Kỹ thuật điện ngày 27/7, Khoa Quản trị kinh doanh ngày 30/7, Khoa Điện tử Viễn thông ngày 7/8 và Khoa Điều khiển và Tự động hóa ngày 10/8.
Những dữ kiện ấy dù chưa đủ để kết luận mọi vấn đề trong quản trị EPU đều đã được giải quyết tốt. Nhưng chúng cho phép nhận ra một lựa chọn phương pháp, đó là người đứng đầu dành không gian cho đối thoại trực tiếp, thay vì chỉ truyền đạt qua tầng nấc hành chính. Khi đặt cạnh yêu cầu “không để khoảng trống thông tin kéo dài”, lựa chọn đó khiến thông điệp ngày 18/8 có thêm trọng lượng.
Dĩ nhiên, thử thách chỉ bắt đầu sau khi nguyên tắc được công bố. Ranh giới giữa “thông tin sai” và “cách diễn giải khác”, giữa bí mật nội bộ và quyền được biết đều cần quy trình rõ ràng. Nếu thực thi thiếu minh bạch, một bộ quy tắc tốt vẫn có thể làm người ta dè dặt khi phản ánh. Phép thử cao nhất vì thế nằm ở thực tế là người góp ý thiện chí có được bảo vệ, người bị phản ánh có được giải trình, và khuyết điểm có căn cứ có được sửa hay không?
Trường Đại học Điện lực đang đặt ra một lộ trình phát triển tham vọng. Chiến lược công khai xác định đến năm 2035 hướng tới nhóm 100 đại học Đông Nam Á và đến năm 2045 nhóm 100 đại học châu Á; các chỉ tiêu đến năm 2030 gồm quy mô đào tạo chính quy 30.000 người học, 60% giảng viên có trình độ tiến sĩ và 250 công bố WoS/Scopus mỗi năm. Một trong sáu chương trình hành động được gọi là “Quản trị thích ứng và thông minh”.
Những con số ấy thường được đọc như câu chuyện quy mô, thứ hạng và năng lực nghiên cứu. Nhưng phía sau còn là bài toán văn hóa. Một đại học 30.000 người học không thể vận hành bằng lời truyền miệng. Một tổ chức đặt tham vọng nghiên cứu cao không thể dung dưỡng thói quen lấy cảm giác thay chứng cứ. Một môi trường muốn đổi mới sáng tạo càng không thể khiến người bên trong sợ đặt câu hỏi.
![]() |
“Bản lĩnh số” nên được hiểu rộng hơn kỹ năng dùng mạng xã hội. Ở tầng cao hơn, đó là quyền tự chủ phán đoán trong một thế giới ngày càng nhiều nội dung do máy tổng hợp. Tự chủ số của đại học cũng không chỉ nằm ở máy chủ hay phần mềm, mà ở năng lực làm chủ dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư, kiểm chứng nguồn và giữ con người ở vị trí quyết định cuối cùng. Ở quy mô rộng hơn, đó là một phần của tự chủ quốc gia trong không gian số - không phó thác năng lực nhận thức cho những hệ thống ta không hoàn toàn kiểm soát.
Cách tiếp cận ấy gặp nhau với triết lý giáo dục mà EPU đặt ra: “Giáo dục toàn diện, vững nền tảng, bền tương lai”. “Toàn diện” trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo không thể chỉ là cộng thêm vài học phần kỹ năng số. Nó phải đi tới tầng nhân cách nghề nghiệp là biết dùng công cụ mạnh mà không đánh mất năng lực tự suy nghĩ; biết khai thác dữ liệu mà không xem nhẹ quyền riêng tư; biết sử dụng trí tuệ nhân tạo mà không chuyển giao trách nhiệm của mình cho máy.
Công nghệ và nhân văn không đứng hai phía chiến tuyến. Công nghệ càng mạnh, yêu cầu về con người càng cao. Hệ thống có thể gợi ý, thuật toán có thể khuếch đại, nhưng trách nhiệm về điều đáng tin và điều cần đối thoại vẫn thuộc về con người và thể chế.
Từ góc nhìn ấy, “ba không - ba chủ động” mà EPU đưa ra có giá trị vì chuyển trọng tâm từ phòng thủ sang kiến tạo. Không phát tán sai sự thật, không công kích, không làm lộ dữ liệu mới là tầng tối thiểu. Chủ động kiểm chứng, chủ động phản ánh và đính chính đúng kênh, chủ động lan tỏa tri thức mới là phần tạo nên văn hóa. Một cộng đồng lành mạnh không chỉ được đo bằng số lỗi nó tránh được, mà còn bằng giá trị tốt nó tự tạo ra.
Cuối cùng là niềm tin - một dạng vốn tích lũy chậm, không thể mua bằng truyền thông hay ban hành bằng quyết định. Nó hình thành từ những chi tiết lặp đi lặp lại, đó là thông tin được công bố đúng lúc, câu hỏi khó được trả lời nghiêm túc, người phản ánh không bị quy chụp, sai sót được thừa nhận, sinh viên biết dừng lại trước điều chưa kiểm chứng.
Thông điệp của PGS.TS. Đinh Văn Châu vì thế đáng chú ý không phải ở chỗ đưa ra thêm một bộ quy tắc cho môi trường số. Điều đáng nói hơn là logic quản trị phía sau, lấy sự thật làm nền, đặt trách nhiệm lên cả cá nhân lẫn tổ chức, dùng đối thoại để xử lý khác biệt và xem niềm tin là kết quả phải được gây dựng bằng thực hành.
Nếu những nguyên tắc ấy đi được từ văn bản vào đời sống, một trường đại học mới thực sự có “bản lĩnh số”. Không phải vì nơi ấy không có tranh luận, mà vì tranh luận không làm mất sự thật; không phải vì tổ chức không có khuyết điểm, mà vì khuyết điểm có đường để được nhìn thấy và sửa chữa; cũng không phải vì mọi người đều nói cùng một tiếng nói, mà vì giữa khác biệt vẫn còn một nền chung đủ vững - chứng cứ, trách nhiệm, đối thoại và niềm tin.

Thực hiện: Vân Anh
Đồ họa: Hà An