LỜI TÒA SOẠN
Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, Đảng và Nhà nước đã xác định rõ yêu cầu đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực trung tâm cho phát triển nhanh và bền vững. Đây không chỉ là một định hướng chiến lược, mà là đòi hỏi cấp thiết trước những biến động sâu sắc của kinh tế toàn cầu và cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt.
Tuy nhiên, từ chính sách đến thực tiễn vẫn còn tồn tại những khoảng cách đáng suy ngẫm. Vì sao nhiều chủ trương đúng đắn chưa tạo được hiệu ứng lan tỏa tương xứng? Vì sao một số dự án hợp tác công nghệ quy mô lớn thành công, trong khi nhiều dự án khác dừng lại ở mức tiếp nhận thụ động? Và đâu là những điều kiện then chốt để khoa học công nghệ thực sự trở thành động lực nội sinh của nền kinh tế?
Loạt bài 5 kỳ này được thực hiện với mong muốn góp thêm một góc nhìn tỉnh táo và thực chứng, thông qua các trường hợp cụ thể, những câu chuyện người thực, việc thực, cùng đối chiếu kinh nghiệm quốc tế. Từ đó, hướng tới mục tiêu không chỉ phản biện, mà còn gợi mở các giải pháp khả thi, thực dụng và phù hợp với điều kiện Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
![]() |
| Hội nghị toàn quốc về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia |
Doanh nghiệp - Điểm chạm của chính sách
Trên văn bản chúng ta đều thấy rõ, các mục tiêu về làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực nội sinh, thúc đẩy chuyển giao, phát triển doanh nghiệp KHCN, liên kết viện - trường - doanh nghiệp,… được trình bày rõ ràng, có lộ trình và mốc thời gian cụ thể. Tuy nhiên, khi quan sát từ hiện trường, nơi các dự án đầu tư, các phòng thí nghiệm, dây chuyền sản xuất và đội ngũ kỹ sư đang vận hành mỗi ngày,... vẫn tồn tại một cảm giác quen thuộc là chính sách thì nhiều, nhưng tác động thực chất lại chưa tương xứng.
Khoảng cách này không phải điều riêng Việt Nam gặp phải. Nhưng trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt, độ trễ giữa chính sách và thực tiễn đang trở thành một rủi ro phát triển có thật.
Một trong những nguyên nhân căn bản của độ lệch pha nằm ở chính cách chính sách được “dịch” từ văn kiện sang hành động. Trên thực tế, chính sách KHCN thường phải đi qua nhiều lớp trung gian là các bộ ngành, địa phương, cơ quan chủ quản, ban quản lý dự án, rồi mới đến doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học,... những chủ thể trực tiếp tạo ra tri thức và công nghệ.
Ở mỗi lớp trung gian, chính sách lại bị “làm mỏng” thêm một chút. Mục tiêu dài hạn bị nén thành chỉ tiêu ngắn hạn; tinh thần đổi mới bị thay thế bằng yêu cầu tuân thủ thủ tục; rủi ro sáng tạo bị né tránh để bảo toàn an toàn hành chính.
Hệ quả là nhiều chương trình KHCN được triển khai đúng quy trình nhưng thiếu sinh khí, đủ hồ sơ nhưng thiếu động lực, có báo cáo tổng kết nhưng ít sản phẩm thực sự đi vào đời sống sản xuất.
Trong cấu trúc hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp lẽ ra phải là điểm hội tụ của chính sách KHCN. Nhưng trên thực tế, nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất, vẫn đứng ở vị thế khá bị động.
Không ít doanh nghiệp tiếp cận chính sách KHCN như một nguồn hỗ trợ hành chính, thay vì một đòn bẩy chiến lược. Ngược lại, nhiều chính sách lại được thiết kế với giả định rằng doanh nghiệp đã sẵn sàng về nhân lực, quản trị công nghệ và khả năng hấp thụ tri thức, trong khi điều này chưa hẳn đúng với số đông.
Khoảng trống giữa hai phía ấy khiến cho chuyển giao công nghệ, nhất là trong các dự án lớn, dễ rơi vào trạng thái hình thức, có thiết bị, có hồ sơ, nhưng thiếu quá trình “làm chủ”.
Trong nhiều dự án hợp tác đầu tư quy mô lớn, khái niệm “chuyển giao công nghệ” thường được hiểu hẹp, gắn với việc bàn giao dây chuyền, tài liệu kỹ thuật, hoặc đào tạo ngắn hạn. Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy công nghệ chỉ thực sự được chuyển giao khi năng lực con người và tổ chức được nâng cấp song song.
Nếu đội ngũ kỹ sư không được tham gia vào quá trình thiết kế, vận hành và xử lý sự cố thực tế; nếu doanh nghiệp không được trao quyền can thiệp kỹ thuật ở những khâu then chốt; nếu tiêu chuẩn, sở hữu trí tuệ và trách nhiệm sau chuyển giao không được làm rõ thì “chuyển giao” chỉ dừng lại ở mức tiếp nhận thụ động.
Không phải là năng lực, mà là thông lệ
Dẫu vậy, sẽ là thiếu công bằng nếu chỉ nhìn vào các hạn chế. Thực tế đã xuất hiện những dự án cho thấy khi điều kiện được thiết kế đúng, khả năng tiếp nhận và làm chủ công nghệ của phía Việt Nam là hoàn toàn khả thi.
Theo ghi nhận của báo chí chuyên ngành trong các bài viết về quá trình vận hành và nội địa hóa kỹ thuật tại Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn, giai đoạn đầu dự án phụ thuộc lớn vào tổng thầu và chuyên gia nước ngoài. Tuy nhiên, qua nhiều năm vận hành, đội ngũ kỹ sư Việt Nam đã từng bước tiếp quản các phân hệ điều khiển, bảo dưỡng và tối ưu vận hành. Một số bài phỏng vấn kỹ thuật cho thấy, chính việc tham gia trực tiếp vào ca kíp vận hành và xử lý sự cố đã tạo ra bước chuyển quan trọng trong năng lực làm chủ công nghệ.
![]() |
| Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn |
Ở lĩnh vực điện tử - công nghệ cao, kinh nghiệm phát triển nhà cung ứng nội địa của Samsung Vietnam cũng thường xuyên được nhắc tới tại các diễn đàn công nghiệp hỗ trợ do các cơ quan quản lý và hiệp hội doanh nghiệp tổ chức. Theo tổng thuật của báo chí tại các sự kiện này, từ vài doanh nghiệp nội địa ban đầu, đến nay đã hình thành một nhóm nhà cung ứng Việt Nam có thể đáp ứng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về chất lượng, quy trình và cải tiến kỹ thuật. Yếu tố quyết định không nằm ở ưu đãi ngắn hạn, mà ở cách tiếp cận dài hạn đối với đào tạo nhân lực và kỷ luật công nghệ.
![]() |
| Samsung Vietnam hình thành một nhóm nhà cung ứng Việt Nam có thể đáp ứng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về chất lượng, quy trình và cải tiến kỹ thuật |
Những trường hợp trên cho thấy một thực tế quan trọng, Việt Nam không thiếu năng lực hấp thụ công nghệ, nhưng các điều kiện dẫn tới thành công vẫn chưa được phổ biến hóa thành thông lệ chính sách. Khi cái làm được vẫn là ngoại lệ, còn cái chưa làm được lại là số đông, thì khoảng cách giữa chính sách và hiện trường sẽ tiếp tục tồn tại.
Điều này đặt ra một yêu cầu không kém phần quan trọng, đó là thay vì chỉ ban hành thêm chiến lược mới, cần tập trung nhiều hơn vào cách thiết kế cơ chế thực thi, cách đo lường hiệu quả dài hạn và cách gắn trách nhiệm của các bên tham gia dự án với kết quả chuyển giao công nghệ thực chất.
Từ bức tranh đó, một câu hỏi lớn dần hiện ra: vì sao cùng là các dự án FDI quy mô lớn, nhưng mức độ lan tỏa công nghệ và khả năng kéo dài chuỗi giá trị trong nước lại khác nhau đến vậy? Câu hỏi này không chỉ để nhìn lại giới hạn của mô hình FDI, mà còn để xác định những điểm Việt Nam hoàn toàn có thể chủ động điều chỉnh.
Kỳ tiếp theo của loạt bài sẽ đi sâu vào bài toán này, nơi những khác biệt nhỏ trong thiết kế chính sách, lựa chọn đối tác và cơ chế ràng buộc có thể tạo ra những kết quả rất khác nhau trong dài hạn.
| Nguồn lực con người cho R&D Bên cạnh quy mô đầu tư tài chính, mật độ nguồn nhân lực nghiên cứu là chỉ báo quan trọng phản ánh năng lực hấp thụ và sáng tạo công nghệ của một quốc gia. Theo thống kê quốc tế, Việt Nam hiện có khoảng 779 nhà nghiên cứu R&D trên mỗi một triệu dân (R&D researchers per million inhabitants). Con số này thấp hơn đáng kể so với một số quốc gia trong khu vực như Thái Lan, nơi mật độ nhà nghiên cứu đạt khoảng 1.699 người trên một triệu dân, và đặc biệt thấp nếu so với các nền kinh tế công nghệ cao như Hàn Quốc, nơi chỉ số này vượt ngưỡng 9.000. Khoảng cách này cho thấy thách thức không chỉ nằm ở thiếu vốn cho R&D, mà còn ở quy mô và chiều sâu của đội ngũ tri thức trực tiếp tham gia vào quá trình sáng tạo và làm chủ công nghệ. |
(Xem tiếp Kỳ 2: Đầu tư không tự động biến thành năng lực nội sinh)
Ngân Hà
Đường dẫn bài viết: https://tudonghoangaynay.vn/ky-1-khi-chien-luoc-khoa-hoc-cong-nghe-buoc-ra-khoi-van-kien-19753.htmlIn bài viết
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2024 https://tudonghoangaynay.vn/ All right reserved.