TP.Hồ Chí Minh tăng tốc xây dựng hệ sinh thái công nghệ, đón dòng vốn FDI mới

Tính đến ngày 25/8/2026, tổng vốn FDI đăng ký vào TP.Hồ Chí Minh đã vượt 10 tỷ USD, đạt 91,5% kế hoạch năm. Tuy nhiên, bài toán phía trước không chỉ là thu hút thêm vốn mà là rút ngắn khoảng cách từ cam kết đầu tư đến triển khai thực tế. Cùng với hạ tầng giao thông, đất đai, năng lượng và logistics, thành phố đang đẩy mạnh hạ tầng dữ liệu, AI, Digital Twin và các công nghệ điều hành thông minh, hướng tới nâng cao năng lực hấp thụ dòng vốn FDI mới.
Bứt phá năng suất dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số TP.Hồ Chí Minh đưa KHCN từ phòng thí nghiệm vào thực tiễn, tạo động lực tăng trưởng mới

Từ sức hút FDI đến năng lực hấp thụ đầu tư

Trong 7 tháng đầu năm 2026, TP.Hồ Chí Minh thu hút gần 9,8 tỷ USD vốn FDI, tương đương 89,4% kế hoạch năm. Đến ngày 25/8, tổng vốn đăng ký đã đạt hơn 10 tỷ USD, tương đương 91,5% kế hoạch thu hút FDI năm 2026. Tuy nhiên, tỷ lệ vốn thực hiện của khu vực FDI hiện ở mức 66,4% so với vốn đăng ký.

Khoảng cách giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện cho thấy sức hấp dẫn của thành phố đang tăng lên, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu phải nâng cao năng lực hấp thụ nguồn vốn này. Theo Sở Tài chính, độ trễ thường xuất hiện ở những dự án quy mô lớn, sử dụng nhiều đất, đòi hỏi đầu tư đồng bộ về xây dựng, giao thông, năng lượng hoặc phải thực hiện nhiều thủ tục liên quan đến quy hoạch, đất đai, xây dựng, môi trường và phòng cháy, chữa cháy.

Đối với các dự án công nghệ cao, sản xuất, logistics và trung tâm dữ liệu, thời gian chuẩn bị còn phụ thuộc vào hạ tầng kỹ thuật, nhập khẩu máy móc, thiết bị và tuyển dụng nhân lực chuyên môn. Đây là những yếu tố có thể kéo dài khoảng thời gian từ khi dự án được cấp phép đến khi thực sự đi vào hoạt động.

Chính vì vậy, cách đo hiệu quả thu hút FDI cũng đang được đặt lại. Thay vì tập trung vào quy mô vốn đăng ký, thành phố hướng đến các tiêu chí như tỷ lệ vốn thực hiện, thời gian triển khai và đưa dự án vào hoạt động, giá trị gia tăng, năng suất lao động, mức độ ứng dụng và chuyển giao công nghệ, hoạt động nghiên cứu - phát triển, chất lượng việc làm và đóng góp ngân sách.

Khả năng liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, mức độ tham gia chuỗi cung ứng, tỷ lệ nội địa hóa, hiệu quả sử dụng đất và năng lượng, cũng như các tiêu chuẩn về môi trường và phát triển bền vững cũng được xem là những thước đo quan trọng.

Nói cách khác, mục tiêu đang chuyển dần từ “thu hút được bao nhiêu vốn” sang “biến bao nhiêu vốn thành năng lực sản xuất và năng lực công nghệ thực tế”.

Khi hạ tầng giao thông chuyển sang “điều hành bằng dữ liệu

Sau khi mở rộng, TP.Hồ Chí Minh đang có sự bổ trợ giữa khu vực trung tâm với thế mạnh về tài chính, thương mại, dịch vụ, công nghệ và nghiên cứu phát triển; khu vực Bình Dương trước đây với nền tảng công nghiệp, khu công nghiệp và chuỗi cung ứng sản xuất; cùng khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu trước đây với lợi thế cảng biển, logistics, năng lượng và kinh tế biển.

Không gian mới tạo điều kiện hình thành một hệ sinh thái đầu tư lớn hơn, nhưng cũng đồng thời đặt ra yêu cầu kết nối hạ tầng ở quy mô rộng hơn. Thành phố đang tập trung đẩy nhanh các tuyến giao thông liên vùng, đường vành đai và cao tốc; tăng cường kết nối cảng biển, sân bay, trung tâm logistics với các khu công nghiệp; đồng thời bảo đảm hạ tầng điện, nước, viễn thông và dữ liệu phục vụ sản xuất.

Một ví dụ là dự án Vành đai 3 TP.Hồ Chí Minh, đoạn tuyến dài 15,3 km trùng với đường Mỹ Phước - Tân Vạn tại khu vực Bình Dương trước đây đang được nghiên cứu phương án đầu tư để khai thác đồng bộ với toàn tuyến Vành đai 3. Theo Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông, dự kiến dự án sẽ được khởi công đầu năm 2027 và hoàn thành năm 2029.

Những dự án này cho thấy hạ tầng giao thông không còn đơn thuần là câu chuyện xây thêm đường. Với một đô thị đang mở rộng không gian công nghiệp và logistics, khả năng kết nối giữa khu sản xuất, cảng, sân bay và các trung tâm phân phối sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí logistics, thời gian vận chuyển và khả năng vận hành của chuỗi cung ứng.

Nếu hạ tầng vật chất tạo ra không gian phát triển thì hạ tầng số đang trở thành lớp công nghệ giúp Thành phố quản lý không gian đó hiệu quả hơn. Trong bối cảnh đó, công nghệ được đặt vào vai trò hỗ trợ quản lý, giám sát và điều hành giao thông theo thời gian thực. Theo ông Nguyễn Kiên Giang - Phó Trưởng Phòng Phòng Quản lý bảo trì và khai thác công trình giao thông (Sở Xây dựng) hiện sở đang quản lý “1.934 thiết bị camera và cảm biến, gồm 1.094 camera quan sát giao thông, 653 camera đo đếm lưu lượng, 76 cảm biến IoT quan trắc giao thông, 50 camera phát hiện sự cố tự động, 31 camera AI chuyên dụng xử lý vi phạm và 30 máy đo tốc độ tự động. Hệ thống “camera thông minh” chiếm khoảng 40,8%”.

Hệ thống camera và cảm biến tự động thu thập dữ liệu về lưu lượng, mật độ phương tiện, tốc độ dòng xe, tình trạng ùn tắc, chiều dài dòng xe, sự cố và tai nạn giao thông. Từ dữ liệu này, hệ thống phân tích và chuyển hóa thành các phương án điều hành, kết hợp giữa tự động hóa thông minh và sự giám sát của cán bộ vận hành theo mô hình Hybrid AI. Đây là bước chuyển đáng chú ý: từ việc “quan sát giao thông” sang dùng dữ liệu để hỗ trợ ra quyết định điều hành.

Theo ông Lý Minh Tuân - Trưởng phòng Kinh tế số - Xã hội số (Sở Khoa học và Công nghệ TP.Hồ Chí Minh) cho biết: thành phố đang thí điểm các mô hình đô thị thông minh tại Côn Đảo, Phú Nhuận và Vũng Tàu, trong đó ứng dụng Digital Twin và Trung tâm Điều hành thông minh (IOC) nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành và phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Cùng với đó, thành phố triển khai các nền tảng GIS, số hóa quy hoạch và tích hợp dữ liệu không gian đất đai trên nền tảng DPAGIS. Một số nghiên cứu ứng dụng AI cũng đang được triển khai, như phát hiện vi phạm quảng cáo trong lĩnh vực y tế, mô hình ngôn ngữ lớn phục vụ quản lý nhà nước và các hệ thống quản lý dự án bồi thường, giải phóng mặt bằng tích hợp bản đồ GIS.

TP.Hồ Chí Minh tăng tốc xây dựng hệ sinh thái công nghệ, đón dòng vốn FDI mới
Ông Lý Minh Tuân - Trưởng phòng Kinh tế số - Xã hội số (Sở Khoa học và Công nghệ) tại "Họp báo cung cấp thông tin về các vấn đề kinh tế - xã hội trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh 27/8/2026". Ảnh: Đinh Thanh Hòa

Ở cấp độ quản trị, thành phố đã ban hành và triển khai chương trình nghiên cứu, ứng dụng AI-First, từng bước đưa AI vào điều hành và thực thi công vụ gắn với chuyển đổi số và phát triển hạ tầng dữ liệu. TP.Hồ Chí Minh cũng nghiên cứu đầu tư hạ tầng HPC dùng chung phục vụ huấn luyện và thử nghiệm các mô hình AI. Điều này cho thấy hạ tầng công nghệ đang được nhìn rộng hơn việc triển khai từng phần mềm riêng lẻ. AI cần dữ liệu; dữ liệu cần hạ tầng tính toán, lưu trữ và kết nối; còn các mô hình Digital Twin cần dữ liệu không gian và dữ liệu thời gian thực để có thể mô phỏng, dự báo và hỗ trợ điều hành.

Khu công nghệ cao: nơi dòng vốn gặp hệ sinh thái công nghệ

Trong bức tranh đó, Khu công nghệ cao TP.Hồ Chí Minh tiếp tục đóng vai trò là một trong những hạt nhân của kinh tế tri thức và công nghiệp công nghệ cao.

Theo thông tin Ban Quản lý Khu Công nghệ cao cung cấp phục vụ họp báo, Khu Công nghệ cao hiện có tổng vốn đầu tư tương đương 13,863 tỷ USD, trong đó vốn nước ngoài khoảng 11,005 tỷ USD và vốn trong nước khoảng 2,858 tỷ USD. Giá trị sản xuất sản phẩm công nghệ cao năm 2025 đạt khoảng 23 tỷ USD. Năm 2026, Khu Công nghệ cao đặt mục tiêu thu hút khoảng 1,6 tỷ USD vốn đầu tư, tập trung vào các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và hạ tầng số.

Tuy nhiên, để những con số đầu tư thực sự chuyển thành năng lực sản xuất, bài toán thủ tục vẫn cần được giải quyết đồng bộ.

Ông Lê Thành Nhân - Trưởng Phòng Xúc tiến đầu tư (Ban Quản lý Khu Công nghệ cao) xác định “điểm nghẽn lớn hiện nay nằm ở thủ tục hành chính về đất đai sau khi nhà đầu tư được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Việc giao đất, cho thuê đất, xác định nghĩa vụ tài chính và bàn giao đất liên quan đến nhiều cơ quan có thẩm quyền”.

Từ đó, Ban Quản lý đề xuất tăng cường phối hợp ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, chủ động rà soát hồ sơ, theo dõi xuyên suốt và cập nhật tiến độ để hạn chế việc nhà đầu tư phải tự liên hệ với nhiều đầu mối. Mục tiêu là rút ngắn thời gian từ khi dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đến khi hoàn tất các thủ tục pháp lý về đất và có thể triển khai trên thực địa.

TP.Hồ Chí Minh tăng tốc xây dựng hệ sinh thái công nghệ, đón dòng vốn FDI mới
Ông Lê Thành Nhân - Trưởng Phòng Xúc tiến đầu tư (Ban Quản lý Khu Công nghệ cao) tại "Họp báo cung cấp thông tin về các vấn đề kinh tế - xã hội trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh 27/8/2026". Ảnh: Đinh Thanh Hòa

Với những ngành có tốc độ đổi mới nhanh như bán dẫn, AI hay trung tâm dữ liệu, thời gian triển khai không chỉ là vấn đề hành chính mà còn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng nắm bắt chu kỳ công nghệ và cơ hội thị trường.

Xây hệ sinh thái để giữ lại giá trị công nghệ

Một dòng vốn FDI thế hệ mới không chỉ tìm kiếm mặt bằng và ưu đãi. Các dự án công nghệ cao còn cần nguồn nhân lực, hệ thống nghiên cứu - phát triển, nhà cung ứng, hạ tầng dữ liệu, logistics và khả năng kết nối với hệ sinh thái doanh nghiệp địa phương.

Đây là lý do khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo đang được đặt vào vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển của TP.Hồ Chí Minh. Hiện tại, tòa thành phố hiện quy tụ khoảng 50% số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam. Năm 2026, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo lần đầu lọt Top 100 hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo năng động toàn cầu, xếp hạng 98, tăng 12 bậc so với năm 2025.

Ở góc độ nhân lực và ứng dụng AI, Sở Khoa học và Công nghệ đã tổ chức 4 lớp tập huấn cho 558 học viên; cấp 319 tài khoản trợ lý ảo AI có bản quyền tính đến ngày 26/8/2026; đồng thời tổ chức 8 lớp bồi dưỡng AI cho hơn 1.100 cán bộ, công chức thuộc 191 cơ quan, đơn vị.

Những hoạt động này cho thấy năng lực công nghệ đang được xây dựng không chỉ ở khu vực doanh nghiệp mà cả trong hệ thống quản trị đô thị. Từ giao thông, logistics đến Khu Công nghệ cao và quản trị đô thị, có thể thấy TP.Hồ Chí Minh đang đứng trước một yêu cầu mới: hạ tầng vật chất và hạ tầng số phải phát triển song hành.

Hạ tầng vật chất tạo điều kiện cho dòng vốn đi vào thực tế: có đất, có đường, có cảng, có điện, có nước, có logistics. Hạ tầng số giúp Thành phố vận hành không gian đó hiệu quả hơn: có dữ liệu, có cảm biến, có AI, có Digital Twin, có hệ thống điều hành và khả năng dự báo. Một dự án FDI chỉ thực sự tạo ra giá trị khi vốn được triển khai, nhà máy hoặc trung tâm R&D đi vào hoạt động, công nghệ được ứng dụng, doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng, lao động được nâng cao năng lực và giá trị gia tăng được giữ lại nhiều hơn tại thành phố.

Thước đo sức hút FDI của TP.Hồ Chí Minh trong giai đoạn tới có lẽ hoàn toàn nằm ở việc thu hút được bao nhiêu tỷ USD, mà ở khả năng biến dòng vốn ấy thành những năng lực sản xuất, công nghệ và đổi mới sáng tạo mới. Đó cũng là lúc hạ tầng không còn chỉ là nền móng cho phát triển, mà trở thành một phần của chính năng lực cạnh tranh công nghệ của đô thị.

Lê Cường - Đinh Hòa

Đinh Thanh Hòa

Đường dẫn bài viết: https://tudonghoangaynay.vn/tpho-chi-minh-tang-toc-xay-dung-he-sinh-thai-cong-nghe-don-dong-von-fdi-moi-23303.htmlIn bài viết

Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2024 https://tudonghoangaynay.vn/ All right reserved.