Đại học phải đáp ứng chuẩn mới về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định Chuẩn cơ sở giáo dục đại học, trong đó khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là một nhóm yêu cầu quan trọng, với các ngưỡng cụ thể về nguồn thu, sản phẩm nghiên cứu và công bố khoa học. Cùng với đó, yêu cầu về chất lượng đội ngũ giảng viên cũng được đặt ra rõ ràng và sẽ được quản lý ngày càng dựa trên dữ liệu.
111 ngành khoa học, kỹ thuật, công nghệ được cấp học bổng 12 cơ sở giáo dục đại học được lựa chọn trở thành đầu tàu dẫn dắt Xét tuyển đại học: Dự kiến bỏ điểm cộng IELTS và giải học sinh giỏi

KHCN, ĐMST được lượng hóa bằng nguồn thu và kết quả nghiên cứu

Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT ngày 30/9/2026 quy định Chuẩn cơ sở giáo dục đại học. Thông tư áp dụng đối với các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục khác có hoạt động giáo dục đại học và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Một nội dung đáng chú ý là yêu cầu riêng đối với hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Theo đó, đối với cơ sở đào tạo có đào tạo tiến sĩ, tỷ trọng thu từ các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên tổng thu của cơ sở đào tạo, tính bình quân trong 3 năm gần nhất và có tính trọng số theo lĩnh vực, không thấp hơn 5%.

Bên cạnh nguồn thu, kết quả khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tính bình quân trên một giảng viên quy đổi phải đạt tối thiểu 0,3 sản phẩm quy đổi/năm. Với cơ sở đào tạo có đào tạo tiến sĩ, không phải trường đào tạo ngành đặc thù, mức yêu cầu là tối thiểu 0,6 sản phẩm quy đổi/năm, trong đó số bài thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus phải đạt tối thiểu 0,3 sản phẩm quy đổi/năm.

Riêng các cơ sở đào tạo thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, danh mục Web of Science hoặc Scopus được thay thế bằng danh mục tạp chí uy tín nhất ở Việt Nam, gồm các tạp chí khoa học loại 1 theo quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ.

Như vậy, hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo được đưa vào hệ thống chuẩn cơ sở giáo dục đại học bằng những chỉ số cụ thể, từ nguồn thu đến sản phẩm nghiên cứu và công bố khoa học.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Tỷ lệ tiến sĩ tăng, dữ liệu giảng viên sẽ được đối soát

Thông tư 83 cũng đặt ra yêu cầu cụ thể về trình độ đội ngũ. Đối với cơ sở đào tạo có đào tạo tiến sĩ, tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ phải không thấp hơn 40%, từ năm 2030 không thấp hơn 50%. Với các trường đào tạo ngành đặc thù có đào tạo tiến sĩ, tỷ lệ tương ứng là 10% và 15% từ năm 2030.

Đối với cơ sở đào tạo không đào tạo tiến sĩ, tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ phải không thấp hơn 20%, từ năm 2030 không thấp hơn 30%; với trường đào tạo ngành đặc thù không đào tạo tiến sĩ, mức tương ứng là 5% và 10%. Thông tư đồng thời yêu cầu tỷ lệ giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động trên tổng số giảng viên không thấp hơn 70%.

Đáng chú ý, những yêu cầu về đội ngũ này được đặt trong bối cảnh Bộ GD&ĐT đang chuyển mạnh sang quản trị đại học dựa trên dữ liệu.

Tại Hội nghị giáo dục đại học năm 2026 ngày 1/10, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Lê Quân cho biết Bộ sẽ triển khai đồng bộ cơ sở dữ liệu quốc gia. Đối với giảng viên, thông tin đăng ký trên hệ thống sẽ được gắn với mã định danh công dân và đối soát với dữ liệu từ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế và cơ quan Thuế.

Theo Thứ trưởng Lê Quân, thực tế có trường nộp danh sách những người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ để làm căn cứ xin tăng chỉ tiêu tuyển sinh, nhưng khi kiểm tra dữ liệu thuế lại không thấy phát sinh thu nhập từ trường. Bộ dự kiến sẽ truy vết, đối soát để xác định mức độ gắn bó thực chất của giảng viên với cơ sở đào tạo và sớm thí điểm kiểm tra chéo tại một số ngành, trường.

Cách tiếp cận này cho thấy việc đáp ứng chuẩn đội ngũ trong thời gian tới không chỉ dừng ở số lượng hay văn bằng được kê khai, mà hướng tới quản lý bằng dữ liệu và xác thực quá trình làm việc thực tế của giảng viên.

Chuẩn mới bao quát cả hạ tầng số và chất lượng đào tạo

Ngoài KHCN, ĐMST và đội ngũ giảng viên, Thông tư 83 quy định các yêu cầu về tổ chức, quản trị; cơ sở vật chất, học liệu và hạ tầng số; tài chính; tuyển sinh và đào tạo.

Từ năm 2030, diện tích đất bình quân trên một người học chính quy quy đổi không nhỏ hơn 25 m²; diện tích sàn xây dựng phục vụ đào tạo không nhỏ hơn 2,8 m²/người học chính quy quy đổi. Hệ thống quản lý học tập trực tuyến phải đáp ứng 100% các chức năng và yêu cầu tối thiểu theo quy định về ứng dụng công nghệ trong giáo dục đại học.

Về tuyển sinh và đào tạo, tỷ lệ nhập học tính bình quân 3 năm gần nhất không thấp hơn 50%; tỷ lệ thôi học không cao hơn 10%, riêng người học năm thứ nhất không cao hơn 15%. Tỷ lệ tốt nghiệp phải đạt tối thiểu 60%, trong đó tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn không thấp hơn 40%. Tỷ lệ người tốt nghiệp có việc làm phù hợp với trình độ chuyên môn, tự tạo việc làm, học tiếp trình độ cao hơn hoặc đang thực hiện hoạt động thực hành bắt buộc trong 12 tháng sau tốt nghiệp phải đạt tối thiểu 70%.

Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực từ ngày 15/11/2026. Việc đưa các yêu cầu định lượng về KHCN, ĐMST, trình độ giảng viên, hạ tầng số và kết quả đào tạo vào chuẩn cơ sở giáo dục đại học tạo thêm cơ sở để đánh giá năng lực và chất lượng thực chất của các cơ sở đào tạo.

Hà Anh

Đường dẫn bài viết: https://tudonghoangaynay.vn/dai-hoc-phai-dap-ung-chuan-moi-ve-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-23865.htmlIn bài viết

Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2024 https://tudonghoangaynay.vn/ All right reserved.