| Quốc hội vì nhân dân, quyết sách vì tương lai đất nước |
Trong tiến trình đó, Quốc hội không ngừng đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng lập pháp và giám sát, hướng tới mục tiêu cao nhất là phục vụ Nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
![]() |
| Quang cảnh một phiên họp của kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI. Ảnh: Quang Vinh |
Hiến pháp năm 1946 - nền móng của Nhà nước dân chủ
Ngày 9/11/1946, tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là dấu mốc đặc biệt quan trọng trong lịch sử lập hiến Việt Nam, đặt nền móng pháp lý cho việc tổ chức và vận hành một Nhà nước độc lập, dân chủ, của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.
Trong bối cảnh đất nước vừa giành được độc lập, phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, việc xây dựng và thông qua Hiến pháp thể hiện tầm nhìn chính trị, tư duy lập hiến tiến bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quốc hội khóa I. Bản Hiến pháp gồm 7 chương, 70 điều, xác lập những nguyên tắc căn bản về tổ chức quyền lực nhà nước, quyền và nghĩa vụ của công dân, đồng thời khẳng định chủ quyền quốc gia thuộc về toàn thể Nhân dân Việt Nam.
Ba nguyên tắc lớn được xác định trong Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1946 gồm: đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo; bảo đảm các quyền tự do dân chủ; thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của Nhân dân. Những tư tưởng này không chỉ có ý nghĩa đối với hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ mà còn đặt nền tảng cho sự phát triển của hệ thống pháp luật và thể chế chính trị Việt Nam trong các giai đoạn tiếp theo.
Đáng chú ý, Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận những cơ chế dân chủ có giá trị tiến bộ, trong đó có quyền bãi miễn đại biểu do Nhân dân bầu ra và quyền phúc quyết về Hiến pháp, những vấn đề quan hệ đến vận mệnh quốc gia. Qua đó, vai trò chủ thể của Nhân dân trong đời sống chính trị và quản lý đất nước được khẳng định ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên.
Trải qua các giai đoạn lịch sử, Việt Nam đã ban hành các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và 2013. Mỗi bản Hiến pháp gắn với một bối cảnh, yêu cầu phát triển mới, đồng thời kế thừa những giá trị nền tảng của Hiến pháp năm 1946, tiếp tục hoàn thiện các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
![]() |
| Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ảnh: Tư liệu |
Không ngừng đổi mới hoạt động của Quốc hội
Cùng với tiến trình phát triển của đất nước, Quốc hội Việt Nam đã trải qua 80 năm xây dựng, trưởng thành và đổi mới. Từ Quốc hội khóa I trong những ngày đầu thành lập nước đến Quốc hội hiện nay, cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất đã từng bước hoàn thiện về tổ chức, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trên cả ba lĩnh vực lập pháp, giám sát tối cao và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.
Một trong những dấu ấn quan trọng là sự đổi mới tư duy lập pháp, chuyển mạnh từ yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật sang xây dựng pháp luật gắn với thực tiễn, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Chất lượng các đạo luật ngày càng được chú trọng, hướng tới tính đồng bộ, minh bạch, khả thi, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.
Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân; đồng thời quy định rõ hơn các hình thức thực hiện quyền lực nhà nước thông qua dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Các quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được thể hiện tập trung tại Chương II, tạo cơ sở hiến định cho việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người trong thực tiễn.
Hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội cũng ngày càng được đổi mới theo hướng thực chất, tập trung vào những vấn đề quan trọng, những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống người dân và sự phát triển của đất nước. Thông qua chất vấn, giám sát chuyên đề và xem xét việc thực hiện các nghị quyết, chính sách, Quốc hội góp phần nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước, thúc đẩy việc giải quyết những vấn đề phát sinh từ thực tiễn.
Cùng với đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động nghị trường từng bước được đẩy mạnh, góp phần đổi mới phương thức làm việc, nâng cao hiệu quả xử lý thông tin và hỗ trợ đại biểu Quốc hội thực hiện tốt hơn vai trò đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cử tri.
![]() |
| Nghị quyết của Quốc hội ủy nhiệm Chính phủ và Ban Thường trực Quốc hội thi hành Hiến pháp tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I (1946). Ảnh: Tư liệu |
Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong giai đoạn phát triển mới
Bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu hoàn thiện thể chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đổi mới quản trị quốc gia đặt ra những nhiệm vụ ngày càng cao đối với Quốc hội. Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013 trong năm 2025, gắn với sắp xếp tổ chức bộ máy và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tiếp tục cho thấy vai trò của hoạt động lập hiến, lập pháp trong đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, hệ thống pháp luật cũng cần được hoàn thiện để kịp thời điều chỉnh những lĩnh vực mới, tạo điều kiện cho các mô hình kinh tế mới phát triển, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân trong môi trường số.
Điều đó đòi hỏi hoạt động của Quốc hội phải tiếp tục đổi mới theo hướng chủ động, linh hoạt, chuyên nghiệp và hiệu quả hơn; nâng cao chất lượng xây dựng chính sách, tăng cường tham vấn chuyên gia, nhà khoa học, cộng đồng doanh nghiệp và người dân trong quá trình xây dựng pháp luật. Việc lấy ý kiến Nhân dân không chỉ là yêu cầu của quy trình lập pháp mà còn là phương thức phát huy quyền làm chủ, bảo đảm các chính sách xuất phát từ thực tiễn và đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Tám mươi năm nhìn lại, từ những tư tưởng lập hiến tiến bộ được xác lập trong Hiến pháp năm 1946 đến những bước đổi mới của Quốc hội hôm nay, nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân vẫn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt. Giá trị ấy không chỉ được thể hiện trong các quy định của Hiến pháp và pháp luật mà quan trọng hơn là phải được cụ thể hóa bằng hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, chất lượng chính sách và những chuyển biến thiết thực trong đời sống Nhân dân.
Đổi mới Quốc hội vì lợi ích của Nhân dân, do đó, không chỉ là yêu cầu thường xuyên trong tổ chức và hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất mà còn là sự tiếp nối tinh thần lập hiến năm 1946, góp phần xây dựng một Nhà nước pháp quyền hiện đại, kiến tạo phát triển và thực sự phục vụ Nhân dân.
Đường dẫn bài viết: https://tudonghoangaynay.vn/80-nam-hien-phap-1946-kien-dinh-nguyen-tac-quyen-luc-thuoc-ve-nhan-dan-24459.htmlIn bài viết
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2024 https://tudonghoangaynay.vn/ All right reserved.