| BSR mở rộng hợp tác nguồn cung ethanol và nhiên liệu sinh học BSR kiện toàn cơ chế hoạch định chiến lược, hướng tới phát triển bền vững BSR thử nghiệm xuất bán White Spirit, mở rộng danh mục sản phẩm |
Không để thiếu nhiên liệu
Cuối tháng 8, đầu tháng 9/2026, trong những ngày nghỉ Quốc khánh, ngoài khơi vịnh Dung Quất vẫn có các tàu dầu thô áp vào phao rót dầu không bến. Theo Petrovietnam, hai chuyến tàu dịp này mang tới khoảng 1,25 triệu thùng dầu. Nguyên liệu phải vào đúng lịch, các phân xưởng chạy liên tục, sản phẩm rời cảng đều đặn. Với một nhà máy cung ứng khoảng 30% nhu cầu xăng dầu trong nước, việc sản xuất không thể bị gián đoạn.
![]() |
| Nhà máy Lọc hóa dầu Dung Quất |
Theo số liệu công bố mới nhất, bảy tháng đầu năm 2026, NMLD Dung Quất vận hành bình quân khoảng 124% công suất thiết kế, sản lượng đạt khoảng 4,76 triệu tấn. Dù cơ cấu năng lượng đang đổi, nền kinh tế vẫn cần dòng nhiên liệu xăng dầu lớn để vận tải, hàng không, đánh bắt thủy hải sản và chuỗi logistics không bị ngắt. Trong các cuộc làm việc tại NMLD Dung Quất năm nay, lãnh đạo Bộ Công Thương nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu vận hành ổn định, chủ động nguyên liệu, bảo đảm nguồn cung trong nước.
Ở đây có một tầng ý nghĩa lớn hơn. An ninh năng lượng không chỉ được đo bằng lượng nhiên liệu một quốc gia có thể mua, mà còn bằng sức chịu đựng trước nhiễu động bên ngoài. Khi chiến sự đảo lộn tuyến hàng hải hay giá quốc tế tăng sốc, một cơ sở lọc dầu trong nước tạo thêm khoảng đệm. Nó không khiến Việt Nam miễn nhiễm với thị trường thế giới, nhưng cho hệ thống thêm thời gian phản ứng.
Nghị quyết 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030 các cơ sở lọc dầu đáp ứng tối thiểu 70% nhu cầu xăng dầu trong nước, dự trữ xăng dầu khoảng 90 ngày nhập ròng. Đáng chú ý, cùng trong một văn bản, Nghị quyết yêu cầu phát triển lọc hóa dầu theo hướng chế biến sâu, nâng chất lượng sản phẩm nhưng phù hợp với lộ trình dịch chuyển năng lượng.
Có thể gọi yêu cầu kép ấy là “an ninh chuyển đổi năng lượng”. Đây là khái niệm phân tích của bài viết, không phải thuật ngữ chính thức trong nghị quyết hay văn bản quản lý. Nếu an ninh nguồn cung là bảo đảm nhiên liệu vẫn có khi thế giới biến động, thì an ninh chuyển đổi là bảo đảm Việt Nam có công nghệ, hạ tầng, nguyên liệu và doanh nghiệp để đổi dần cấu trúc nhiên liệu mà không gây cú sốc mới về nguồn cung hay chi phí. BSR đang đứng giữa hai tầng an ninh ấy.
![]() |
1,5 tỷ USD cho một giá trị dài hạn
Câu hỏi được đặt ra là vì sao Việt Nam còn đầu tư lớn cho một nhà máy lọc dầu trong thời đại giảm carbon?
Ngày 9/7/2026, BSR ký các hợp đồng triển khai dự án nâng cấp, mở rộng NMLD Dung Quất. Tổng mức đầu tư khoảng 36.397 tỷ đồng, tương đương 1,489 tỷ USD. Công suất thiết kế dự kiến tăng từ 148.000 lên 171.000 thùng dầu thô/ngày; sản phẩm hướng tới tiêu chuẩn Euro V; dự án được triển khai trong 37 tháng kể từ khi hợp đồng thiết kế - mua sắm - xây dựng có hiệu lực và dự kiến vận hành năm 2028.
Nếu chỉ nhìn 23.000 thùng/ngày tăng thêm, dự án dễ bị hiểu là phép cộng công suất. Nhưng phần đáng chú ý hơn nằm trong cấu hình công nghệ. Theo đó tăng khả năng chế biến nhiều loại dầu thô và độ linh hoạt của nhà máy. Đến tháng 6/2026, BSR cho biết Dung Quất đã có khả năng chế biến 40 loại dầu thô và condensate, gồm 12 loại trong nước, 28 loại nhập khẩu. Dầu Erha từ Nigeria và condensate Sao Vàng - Đại Nguyệt là hai ví dụ mới.
Trong lọc dầu, khả năng xử lý nhiều loại nguyên liệu không phải chi tiết để trang trí báo cáo. Dầu thô khác nhau về tỷ trọng, lưu huỳnh, kim loại và cấu trúc phân đoạn; mỗi khác biệt kéo theo bài toán công nghệ và chi phí. Nhà máy càng linh hoạt, doanh nghiệp càng có lựa chọn khi một nguồn dầu đắt lên hoặc khó tiếp cận. Tháng 8/2026, Dung Quất đưa thêm bể dầu thô 65.000 m³ vào hoạt động, nâng tổng năng lực tồn chứa từ khoảng 520.000 lên 585.000 m³.
Tự chủ, đôi khi, bắt đầu từ những thứ rất vật chất như một chiếc bể lớn hơn, một “rổ” nguyên liệu rộng hơn.
Bởi thế, gần 1,5 tỷ USD không nên chỉ được hỏi sẽ làm ra thêm bao nhiêu xăng dầu. Câu hỏi đúng hơn là khoản đầu tư ấy mua được bao nhiêu năm thích nghi cho một tài sản chiến lược. Nếu sau nâng cấp Dung Quất xử lý được nguyên liệu đa dạng hơn, sản xuất nhiên liệu sạch hơn và đủ mở để kết nối các dòng nguyên liệu mới, đó mới là giá trị dài hạn. Ngược lại, nếu chỉ tăng sản lượng những sản phẩm mà nhu cầu sẽ đổi nhanh trong vài thập niên tới, rủi ro tài sản mắc kẹt là điều không thể xem nhẹ.
![]() |
| Các kỹ sư vận hành tại BSR |
Chiếc đồng hồ thứ hai đã chạy
Điều đáng chú ý là chiếc đồng hồ chuyển đổi không đợi dự án mở rộng hoàn thành.
Từ ngày 1/6/2026, theo Thông tư 50/2025/TT-BCT, xăng không chì phải được phối trộn thành E10 để sử dụng cho động cơ xăng trên toàn quốc; E5 RON92 tiếp tục đến hết năm 2030. Tại NMLD Dung Quất, BSR đã chuẩn bị kho, bồn, hệ thống phối trộn và xuất bán bằng đường bộ lẫn đường biển. Lũy kế đến hết tháng 7/2026, sản lượng E10 RON95 xuất bán khoảng 300.000 m³.
Nhìn ngược về nguồn ethanol, câu chuyện bớt đơn giản. Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất được đưa trở lại chuỗi cung ứng, nhưng giai đoạn đầu BSR vẫn phải bổ sung khoảng 12.000 m³ ethanol E100 mỗi tháng từ nhập khẩu, chủ yếu từ Hoa Kỳ, theo báo cáo với đoàn công tác Bộ Công Thương ngày 3/8. Chi tiết ấy cho thấy chuyển dịch năng lượng không tự động đồng nghĩa với tự chủ. Nếu cấu tử mới vẫn phụ thuộc đáng kể vào bên ngoài, bài toán an ninh chỉ chuyển từ loại hàng hóa này sang loại hàng hóa khác.
Ngày 6/8/2026, BSR xuất bán lô diesel sinh học B5 đầu tiên từ Dung Quất. Thông tư 50 hiện chưa bắt buộc sử dụng B5 hay B10 cho động cơ diesel mà mới khuyến khích. Vì thế, B5 nên được nhìn như bước thử về kỹ thuật và thị trường, chưa phải bằng chứng rằng chuyển đổi đã hoàn tất.
Nhiên liệu hàng không bền vững cũng cần được hiểu chính xác. Ngày 4/6/2025, BSR xuất bán lô thương mại đầu tiên; hôm sau, nhiên liệu được tra nạp cho các chuyến bay nội địa của Vietnam Airlines tại Đà Nẵng. Nhưng lô đầu tiên là sản phẩm phối trộn cấu tử nhiên liệu hàng không bền vững nhập khẩu với Jet A-1 do BSR sản xuất, chưa phải chuỗi nhiên liệu hoàn toàn dựa trên nguyên liệu trong nước. Điều đó không làm giảm ý nghĩa thử nghiệm; nó chỉ xác định đúng vị trí Việt Nam trên đường cong công nghệ, tại điểm đó đã có năng lực phối trộn, kiểm soát chất lượng, cung ứng; còn nguyên liệu, công nghệ sản xuất sâu và quy mô thương mại vẫn ở phía trước.
BSR đồng thời đang hợp tác nghiên cứu hiđrô xanh, nhiên liệu hàng không bền vững và công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon. Chưa nên gọi đó là các trụ cột kinh doanh đã thành hình. Nhưng chúng cho thấy ranh giới của một nhà máy lọc dầu đang nới ra - không chỉ là vấn đề “dầu thô nào đi vào”, mà là vấn đề “carbon nào có thể thay thế, giảm bớt hoặc giữ lại”.
Từ một nhà máy đến một hệ sinh thái
Ngày 10/5/2026, “Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn” chính thức mang tên “Công ty cổ phần - Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam”; thương hiệu BSR được giữ lại. Đổi tên tự thân không tạo năng lực mới. Giá trị của dấu mốc chỉ xuất hiện nếu mô hình quản trị thay đổi tương ứng với một không gian công nghiệp rộng hơn.
Một nhà máy tối ưu phân xưởng, lịch bảo dưỡng, nguyên liệu và cơ cấu sản phẩm. Một tổng công ty lọc hóa dầu - năng lượng phải nhìn ra ngoài hàng rào gồm kho dự trữ, cảng biển, nguồn dầu quốc tế, ethanol, hóa dầu, nhiên liệu mới, logistics, vốn, chuẩn carbon, dữ liệu và nghiên cứu phát triển. Bước chuyển thực sự vì thế không phải từ “công ty” lên “tổng công ty”, mà từ quản trị một tài sản sang quản trị một chuỗi giá trị.
Tháng 4/2026, Chính phủ thảo luận các cơ chế thúc đẩy Trung tâm Lọc hóa dầu và Năng lượng quốc gia tại Khu kinh tế Dung Quất; tháng 8, Chính phủ tiếp tục yêu cầu khẩn trương hoàn thiện đề xuất. Định hướng được công bố là một trung tâm công nghiệp năng lượng tích hợp, gắn lọc hóa dầu với khí tự nhiên hóa lỏng, điện, năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn và kinh tế carbon thấp; Nhà máy Lọc dầu Dung Quất được xác định là hạt nhân hiện hữu.
Nếu mô hình ấy thành hiện thực, “hệ sinh thái” chỉ có nghĩa khi các dự án thực sự trao đổi giá trị: nhiệt thừa của nơi này thành đầu vào nơi khác; điện tái tạo cấp cho sản xuất hiđrô; hóa dầu sâu kéo thêm công nghiệp chế biến phía sau. Khi ấy, bài toán không còn là dựng thêm vài nhà máy, mà là tối ưu vật chất, năng lượng, carbon và vốn trên cùng một không gian. Vai trò của Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam cũng phải được chứng minh bằng năng lực tổ chức chuỗi ấy.
![]() |
Cuộc chuyển đổi không có đường thẳng
Sẽ dễ dàng nếu câu chuyện kết thúc ở một tương lai xanh. Thực tế khó hơn.
Trong nhiều năm tới, Việt Nam vẫn cần lượng lớn xăng dầu. Đồng thời, xe điện mở rộng, tiêu chuẩn phát thải chặt hơn và chi phí carbon sẽ dần đi vào quyết định đầu tư. Nhà máy lọc dầu vì thế chịu sức ép kép, phải tạo dòng tiền từ tài sản hiện hữu nhưng không được để dòng tiền ấy thành lý do trì hoãn thay đổi.
Chuyển dịch cũng không chỉ là thay một phân tử. E10 cần ethanol ổn định, đạt chuẩn và có giá hợp lý; nhiên liệu hàng không bền vững cần nguyên liệu bền vững, chứng nhận và thị trường; hiđrô xanh cần lượng điện tái tạo đủ lớn, đủ rẻ; thu giữ carbon cần công nghệ, hạ tầng và một cơ chế kinh tế khiến việc thu giữ đáng để đầu tư.
Bởi thế, “an ninh chuyển đổi năng lượng” không nên được đo bằng số dự án mang chữ xanh. Nó phải được đo bằng khả năng thay đổi mà hệ thống vẫn chịu được - nhiên liệu không thiếu, chi phí không tạo cú sốc, vốn không bị chôn vào tài sản sớm lỗi thời, công nghệ từng bước được làm chủ và phần giá trị gia tăng ở lại nền kinh tế nhiều hơn.
BSR có một lợi thế hiếm có là tài sản công nghiệp lớn đang vận hành, thị trường hiện hữu, đội ngũ kỹ sư giàu kinh nghiệm và vị trí đang được định hướng thành trung tâm năng lượng. Nhưng lợi thế ấy cũng đặt trách nhiệm lớn hơn. Với doanh nghiệp giữ một mắt xích quan trọng của nguồn cung quốc gia, hiệu quả không thể chỉ nhìn ở lợi nhuận từng năm, mà còn ở độ bền trước cú sốc và khả năng đổi hướng khi công nghệ thay đổi.
Hai chiếc đồng hồ ở Dung Quất sẽ còn chạy song song. Chiếc thứ nhất đòi hỏi tàu dầu vào cảng đúng hẹn, phân xưởng vận hành an toàn, nhiên liệu ra thị trường không gián đoạn. Chiếc thứ hai khó đo hơn - bao nhiêu ethanol có thể chủ động trong nước, khi nào nhiên liệu hàng không bền vững có chuỗi nguyên liệu thực sự, hiđrô xanh lúc nào đạt giá cạnh tranh, carbon được quản trị ra sao và công nghệ nào người Việt có thể làm chủ?!
Thước đo lớn nhất đối với Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam trong những thập niên tới vì thế có lẽ không phải là lọc được thêm bao nhiêu triệu tấn dầu. Đó là liệu BSR có thể giúp Việt Nam đi qua thời kỳ chuyển dịch năng lượng mà vừa không thiếu nhiên liệu của hôm nay, vừa không chậm chân trước nhiên liệu của ngày mai hay không?!