Thiếu hụt lao động đã qua đào tạo
• Lời giải cho bài toán nhân sự ngành sản xuất hậu Covid-19
• Thị trường lao động Tp.HCM “khát” nhân lực có tay nghề
• Lấy doanh nghiệp, người lao động là điểm xuất phát để đào tạo nhân lực công nghệ chất lượng cao
Theo Báo cáo đánh giá nền kinh tế Việt Nam trong năm 2020 được thực hiện bởi nhóm chuyên gia, các nhà nghiên cứu tại Trường ĐH Kinh tế quốc dân, năng suất lao động của Việt Nam năm 2020 chỉ tăng 5,4% (năm 2019 là 6,2%) và ở mức thấp nhất trong vòng 5 năm trở lại đây. Cụ thể, năng suất lao động bình quân đạt mức 117,94 triệu đồng, tương đương khoảng 5.081 USD/lao động.
Mức tăng trưởng năng suất lao động của Việt Nam vẫn chưa đủ nhanh để thu hẹp khoảng cách với các quốc gia phát triển hơn trong khu vực ASEAN. Cụ thể, năng suất lao động của Việt Nam vẫn thấp hơn 26 lần so với Singapore, 7 lần so với Malaysia, 4 lần so với Tung Quốc, 2 lần so với Philippines, 3 lần so với Thái Lan.
Đáng lưu ý, nhóm nghiên cứu cũng phân tích và dẫn chứng thông tin từ báo cáo trong năm 2020 của Tổ chức Năng suất châu Á (APO) so sánh, năng suất lao động của Việt Nam hiện nay đang tụt hậu 10 năm so với Thái Lan, 40 năm so với Malaysia và 60 năm so với Nhật Bản.
Một trong những nguyên nhân khiến năng suất lao động của Việt Nam còn thấp là do chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn thấp. Theo báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2020 của Tổng cục Thống kê, tỉ lệ lao động đã qua đào tạo chỉ có 23,6%. Cơ cấu đào tạo thiếu hợp lý, thiếu hụt lao động có tay nghề cao, khoảng cách giữa giáo dục nghề nghiệp và nhu cầu của thị trường lao động còn lớn. Tỷ lệ lao động 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo đang làm việc trong nền kinh tế tăng dần qua các năm nhưng đến năm 2019 chỉ đạt 22,8%. Nguồn nhân lực Việt Nam chưa sẵn sàng cho công nghiệp 4.0
Điều này đặt ra thách thức lớn cho quá trình phát triển công nghiệp của đất nước. Sản xuất công nghiệp của Việt Nam hiện nay nhìn chung vẫn đang tập trung chủ yếu vào các hoạt động sản xuất ở công đoạn cuối cùng, đem lại giá trị gia tăng thấp; động lực trong sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp của chúng ta hiện nay vẫn đang chủ yếu được thúc đẩy bởi khu vực FDI, chiếm xấp xỉ 70% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Điều này dẫn đến tăng trưởng năng suất của nên kinh tế thấp và khả năng cạnh tranh yếu của khu vực kinh tế trong nước.

Trọng tâm phát triển nguồn nhân lực cho CNH, HĐH
Được đánh giá là một nền kinh tế mới nổi, là điểm đến của các nhà đầu tư nước ngoài trong những năm gần đây và tiếp tục có triển vọng thu hút FDI, Việt Nam đang mở ra cơ hội việc làm cho nhiều người. Ngoài ra, kinh tế số đang tạo nên thị trường lao động vô cùng năng động, linh hoạt. Đây là những cơ hội lớn cho nguồn nhân lực nếu đáp ứng được. Cơ hội này đi liền thách thức không hề nhỏ cho những nhà quản lý, các cơ sở đào tạo.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII đã đặt mục tiêu giai đoạn 2021 – 2025: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân 5 năm đạt khoảng 6,5 – 7%/năm. Đến năm 2025, GDP bình quân đầu người khoảng 4.700 – 5.000 USD; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt khoảng 45%; tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân trên 6,5%/năm; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt trên 25%; kinh tế số đạt khoảng 20% GDP; tỉ lệ lao động qua đào tạo là 70%.
Mặc dù nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế nhưng chúng ta không thể không phấn đấu cho mục tiêu mà Đại hội XIII đặt ra. Điều này đòi hỏi phải có giải pháp về nguồn nhân lực chất lượng cao.

Phát biểu tại Hội thảo: “Chuyển đổi lao động và phát triển nguồn nhân lực số trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn nhận định: “Với sự tiến bộ của công nghệ và những thay đổi của thế giới trong thời gian qua đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động giáo dục – đào tạo, đòi hỏi giáo dục – đào tạo phải thích ứng. Hơn lúc nào hết Việt Nam cần có giải pháp ưu tiên phát triển nguồn nhân lực mới có đủ năng lực tham gia vào nền kinh tế hiện nay, phù hợp thời kỳ mới, bối cảnh mới”. Thứ trưởng Hoàng Minh Sơn cũng cho biết, nguồn nhân lực chất lượng cao không đơn thuần là các kỹ năng trong một lĩnh vực cụ thể, mà còn yêu cầu khả năng thích ứng trong bối cảnh mới. Một người được đào tạo trong ngành cụ thể nhưng vẫn có thể bắt nhịp làm việc trong ngành khác thuận lợi. Trong bối cảnh hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định trọng tâm là phát triển nguồn nhân lực cho CNH, HĐH đất nước, trong đó nguồn nhân lực số sẽ là ưu tiên, bởi ngày nay, chuyển đổi số, kinh tế số là xu hướng tất yếu.
Hội thảo: “Chuyển đổi lao động và phát triển nguồn nhân lực số trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” diễn ra ngày 17/11, trong khuôn khổ Diễn đàn Công nghiệp 4.0 năm 2021.
Đẩy mạnh vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp trong đào tạo
Để có được nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu thị trường lao động hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như các cơ sơ đào tạo đã triển khai nhiều giải pháp như tăng cường áp dụng chuyển đổi số trong giáo dục, đưa các ngành mới phù hợp Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ Tư (CMCN 4.0) vào giảng dạy,… Nhưng điều quan trọng theo các đại biểu chia sẻ trong diễn đàn là phải coi lao động là thị trường, lao động là hàng hóa. Nguồn nhân lực được cung cấp ra thị trường không chỉ đòi hỏi đáp ứng về số lượng mà phải là chất lượng, đáp ứng được yêu cầu công việc của doanh nghiệp.
Ông David Wei – CEO Huawei Việt Nam cho biết doanh nghiệp có nhiều đối tác mạnh ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương nhưng các đối tác phản hồi về việc khó tìm kiếm nguồn nhân lực ICT trong khu vực này. Ông David Wei cho rằng người lao động cần được tích hợp các kỹ năng, có năng lực tổng hợp toàn diện, không chỉ kinh nghiệm thị trường mà còn cần kỹ năng thực hiện các dự án thực tế, xử lý các tình huống phát sinh về kỹ thuật và cần có các chứng chỉ chính thức.
Từ kinh nghiệm hoạt động tại Tổ chức lao động quốc tế (ILO), bà Nguyễn Hồng Hà – đại diện lâm thời của ILO cho rằng Việt Nam là nước chịu tác động nhiều của CMCN 4.0 do kỹ năng lao động còn thấp, khả năng đầu tư đổi mới công nghệ còn hạn chế do phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa. “Trong khi CMCN 4.0 tạo ra nhiều yếu tố bất định thì giáo dục cần linh hoạt và có sức chống chịu tốt hơn. Giáo dục cần đóng vai trò quan trọng trong dự báo, nâng cấp, định hình nguồn nhân lực”. Hội nghị Lao động quốc tế lần thứ 108 tuyên bố Thiên niên kỷ về tương lai việc làm (vào tháng 6/2019) đã kêu gọi đặt con người và việc làm vào vị trí trung tâm, cơ sở tạo chính sách. Theo bà Hà, cần đẩy mạnh vài trò dẫn dắt của doanh nghiệp trong đào tạo nhân lực, tức là đào tạo phải có sự phối hợp, chia sẻ, lắng nghe từ nhu cầu doanh nghiệp, vì chỉ có doanh nghiệp mới hiểu rõ họ cần gì.
Đồng quan điểm của bà Hà, ông Đặng Hoài Bắc – Phó Giám đốc Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn Thông cho rằng kết hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo là tất yếu vì doanh nghiệp chính là “giám khảo” tốt nhất cho nguồn nhân lực. Bản thân giáo viên trong nhà trường vẫn còn khoảng cách nhất định với thị trường ở ngoài.
Ông Vũ Hải Quân, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc đại học Quốc gia TPHCM cùng khẳng định: “Kỹ năng quan trọng nhất là làm thế nào vào doanh nghiệp là phải đáp ứng được nhu cầu cầu doanh nghiệp. Với tốc độ phát triển của công nghệ như hiện nay, kỹ năng việc làm như hiện nay, nếu không kết hợp nhà trường và doanh nghiệp thì nhà trường không theo kịp thực tế sản xuất của doanh nghiệp”.
Cuộc CMCN 4.0, đại dịch Covid-19 đã tạo nên sự biến động của nghề nghiệp, đòi hỏi người lao động phải có đủ năng lực thích ứng. Ở trong nước, với hiện trạng nhân lực còn nhiều hạn chế, để đáp ứng tiến trình CNH, HĐH đòi hỏi phải có sự định hướng, chuyển đổi kịp thời từ nhóm nghề nghiệp theo nhu cầu thị trường đến năng lực làm việc.
Trà Giang