Từ mục tiêu 50.000 nhân lực đến yêu cầu của thị trường
Ngày 23/10, tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, Cơ sở TP. Hồ Chí Minh, Ngày hội Giao lưu Doanh nghiệp và Sinh viên lần thứ XV - năm 2026 diễn ra với nhiều hoạt động kết nối đào tạo, tuyển dụng và hợp tác công nghệ. Trong khuôn khổ chương trình, chuyên đề về đào tạo nhân lực bán dẫn tại Việt Nam đã đưa ra vấn đề đáng chú ý: để đáp ứng nhu cầu phát triển ngành công nghiệp bán dẫn, Việt Nam cần chuẩn bị lực lượng lao động như thế nào, thay vì chỉ tập trung vào mục tiêu số lượng?
Phát biểu tại sự kiện, TS. Nguyễn Trung Kiên - Phó Giám đốc Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, phụ trách Cơ sở tại TP. Hồ Chí Minh - cho biết, năm 2026, cơ sở đón 1.816 tân sinh viên, tăng 18% so với năm trước, nâng tổng quy mô đào tạo lên 7.575 sinh viên thuộc 19 ngành và chương trình đào tạo. Các lĩnh vực đào tạo bao gồm viễn thông, điện tử, an toàn thông tin, trí tuệ nhân tạo (AI), vi mạch, Internet vạn vật (IoT), dữ liệu cùng các ngành kinh tế và quản trị.
Số liệu cho thấy quy mô đào tạo đang được mở rộng, đồng thời phản ánh sự đa dạng của nhu cầu nhân lực trong các lĩnh vực công nghệ. Tuy nhiên, đối với ngành bán dẫn, quy mô người học mới chỉ là một phần của bài toán. Khả năng đáp ứng công việc sau tốt nghiệp còn phụ thuộc vào chuyên môn được đào tạo, mức độ tiếp cận công nghệ và kinh nghiệm thực hành trong môi trường gần với sản xuất thực tế.
Vấn đề này được phân tích chi tiết hơn tại chuyên đề “Đào tạo nhân lực bán dẫn tại Việt Nam: Hiện trạng, cơ hội và thách thức” do ông Triệu Hiệp Lộc - Phó Chủ tịch Chi hội Kinh tế Bán dẫn - AI & IoT HASEM (HASEMI), Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc CTW Technology JSC - trình bày.
Theo ông Lộc nhận định “Việt Nam đã có doanh nghiệp tham gia lĩnh vực thiết kế vi mạch, đồng thời thu hút các dự án quy mô lớn trong đóng gói và kiểm thử. Trong khi đó, chế tạo tấm bán dẫn (wafer) vẫn là khâu còn hạn chế. Sự khác biệt về mức độ phát triển giữa các công đoạn cho thấy nhu cầu nhân lực của ngành không đồng nhất, mà phụ thuộc vào định hướng đầu tư và vị trí của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị”.
![]() |
| Ông Triệu Hiệp Lộc chia sẻ về cơ hội hợp tác giữa các hiệp hội và cơ sở đào tạo trong phát triển nguồn nhân lực bán dẫn tại Việt Nam. |
Điều này đặt ra yêu cầu phải xác định rõ từng nhóm nghề, năng lực chuyên môn và trình độ thực hành cần thiết. Nhân lực phục vụ thiết kế vi mạch không thể được chuẩn bị hoàn toàn theo cùng một cách với nhân lực làm việc trong lĩnh vực đóng gói, kiểm thử hay vận hành thiết bị sản xuất.
Mục tiêu đào tạo 50.000 nhân lực bán dẫn đến năm 2030 cần được nhìn nhận đồng thời từ hai phía: khả năng cung ứng của hệ thống giáo dục và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Nếu thiếu sự tương thích giữa hai phía, việc gia tăng số lượng người học chưa chắc chuyển hóa thành nguồn nhân lực có thể đáp ứng ngay yêu cầu công việc.
Kết nối doanh nghiệp với nhà trường
Một trong những nội dung đáng chú ý tại Ngày hội Giao lưu Doanh nghiệp và Sinh viên lần thứ XV là hoạt động hợp tác giữa Học viện với 5 đơn vị, gồm Viễn thông Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP.HCM, TP-Link Technologies Việt Nam, Công ty Cổ phần Công nghệ Sao Bắc Đẩu và Công ty Cổ phần Công nghệ Mekong (METEK).
Các nội dung hợp tác hướng đến nhiều hoạt động khác nhau, từ tuyển dụng, thực tập đến xây dựng môi trường thực hành và nghiên cứu giải pháp công nghệ. Chẳng hạn, TP-Link Technologies Việt Nam dự kiến phối hợp xây dựng phòng thực hành mạng doanh nghiệp trên nền tảng TP-Link Omada. Trong khi đó, Học viện và METEK hướng đến nghiên cứu trợ lý giọng nói tiếng Việt cho kiosk tự phục vụ, đồng thời ứng dụng thị giác máy tính trong chống giả mạo khuôn mặt.
Theo TS. Nguyễn Trung Kiên, Học viện hiện có đội ngũ giảng viên với gần 40% đạt trình độ tiến sĩ trở lên cùng 5 phòng thí nghiệm chuyên sâu. Nhà trường sẵn sàng tiếp nhận các đề bài đồ án tốt nghiệp gắn với sản phẩm thực tế, đề tài nghiên cứu và giải pháp thử nghiệm từ doanh nghiệp.
Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển các mô hình hợp tác đào tạo. Tuy nhiên, hiệu quả không chỉ nằm ở số lượng thỏa thuận được ký kết, mà còn ở việc các nội dung hợp tác có được triển khai thành hoạt động cụ thể hay không: sinh viên được thực hành trên những công cụ nào, tham gia giải quyết bài toán gì và được đánh giá năng lực theo tiêu chí nào.
Với lĩnh vực bán dẫn, yêu cầu này càng cần được cụ thể hóa. Doanh nghiệp có thể tham gia góp ý chuẩn đầu ra, cung cấp bài toán kỹ thuật, cử chuyên gia hướng dẫn hoặc tạo điều kiện để sinh viên tiếp cận quy trình làm việc. Ở chiều ngược lại, cơ sở đào tạo cần chủ động điều chỉnh nội dung giảng dạy, tổ chức thực hành và đánh giá kết quả học tập theo yêu cầu của từng nhóm nghề.
Cách tiếp cận này cũng giúp doanh nghiệp tham gia sớm hơn vào quá trình chuẩn bị nhân lực, thay vì chỉ tiếp cận sinh viên ở giai đoạn tuyển dụng sau tốt nghiệp. Nhà trường có thêm thông tin để điều chỉnh chương trình, còn người học hiểu rõ hơn yêu cầu công việc và những năng lực cần hoàn thiện trước khi bước vào thị trường lao động.
Năng lực thực hành quyết định chất lượng đầu ra
Điều kiện thực hành là một trong những vấn đề cần giải quyết để đáp ứng mục tiêu phát triển nhân lực bán dẫn. Bên cạnh kiến thức nền tảng về điện tử, vật lý, toán học và lập trình, sinh viên cần được tiếp cận công cụ chuyên dụng, quy trình kỹ thuật và môi trường thực hành phù hợp với vị trí nghề nghiệp.
Yêu cầu này khác nhau giữa các công đoạn của chuỗi giá trị. Với thiết kế vi mạch, người học cần làm quen với phần mềm EDA và công cụ kiểm chứng thiết kế; trong khi ở lĩnh vực đóng gói, kiểm thử, năng lực sử dụng thiết bị đo kiểm và đánh giá đặc tính, độ tin cậy của linh kiện có vai trò quan trọng. Sự khác biệt đó đòi hỏi các cơ sở đào tạo xác định lĩnh vực ưu tiên dựa trên thế mạnh sẵn có và nhu cầu của doanh nghiệp, thay vì dàn trải nguồn lực cho mọi công đoạn.
![]() |
| Đại diện Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông và các doanh nghiệp thực hiện nghi thức ký kết hợp tác tại Ngày hội Giao lưu Doanh nghiệp và Sinh viên lần thứ XV - năm 2026. |
Từ thực tế này, hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp cần đi vào chiều sâu, từ xây dựng chương trình, cung cấp bài toán kỹ thuật đến tổ chức thực hành và đánh giá năng lực người học. Những nội dung hợp tác được triển khai tại Ngày hội Giao lưu Doanh nghiệp và Sinh viên lần thứ XV là một hướng kết nối đáng chú ý. Tuy nhiên, hiệu quả cần được thể hiện qua khả năng chuyển hóa các thỏa thuận thành cơ hội thực hành, trải nghiệm nghề nghiệp và năng lực đáp ứng yêu cầu tuyển dụng của sinh viên.
Hướng tới mục tiêu 50.000 nhân lực bán dẫn trình độ đại học trở lên vào năm 2030, bên cạnh quy mô tuyển sinh, cần quan tâm đến cơ cấu chuyên môn, chất lượng thực hành và mức độ đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp. Đây là cơ sở để đánh giá hiệu quả đào tạo, đồng thời giúp nguồn nhân lực được chuẩn bị sát hơn với yêu cầu phát triển của ngành bán dẫn Việt Nam.