| Liên hiệp Hội Việt Nam góp ý hoàn thiện Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật Đại hội IX Liên hiệp Hội Việt Nam: Đưa tri thức thành động lực phát triển |
Hội thảo tập trung trao đổi giải pháp phát huy nguồn lực trí thức, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các hội thành viên và cơ quan liên quan, nâng cao chất lượng các kiến nghị khoa học phục vụ quá trình xây dựng, hoàn thiện chính sách.
Kết nối chuyên gia, chuyển từ tập hợp ý kiến sang phản biện liên ngành
Trong tham luận “Phát huy vai trò của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trong kết nối, huy động trí tuệ chuyên gia liên ngành phục vụ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội”, TS. Phạm Ngọc Sơn, Phó Chủ tịch Tổng hội Địa chất Việt Nam, nhấn mạnh những vấn đề phát triển hiện nay thường liên quan đồng thời đến khoa học, công nghệ, kinh tế, môi trường và xã hội. Vì vậy, một nhận định chuyên môn riêng lẻ dù chính xác vẫn chưa đủ tạo nên kiến nghị chính sách có sức thuyết phục.
Điểm chung là các quyết định quản lý liên quan đến địa chất và khoáng sản thường phải giải quyết đồng thời nhiều mối quan hệ: giữa tiềm năng tài nguyên và khả năng khai thác; giữa hiệu quả kinh tế và yêu cầu bảo vệ môi trường; giữa lợi ích trước mắt và phát triển lâu dài; giữa cơ sở khoa học và điều kiện thực thi. Nếu thiếu một trong các góc nhìn cần thiết, kiến nghị có thể đúng ở một khía cạnh nhưng chưa đầy đủ đối với yêu cầu ra quyết định.
Do đó, thành phần chuyên gia và phương pháp đánh giá phải được xác định linh hoạt theo bản chất của từng nhiệm vụ. Chuyên môn địa chất có thể giữ vai trò chủ đạo khi đánh giá điều kiện tự nhiên và nguồn tài nguyên; trong những nhiệm vụ khác, kết quả địa chất là một trong nhiều căn cứ cần được tích hợp. Điều quan trọng là xác định rõ phần việc của từng chuyên ngành và cơ chế đối thoại giữa các kết quả.
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam có thể phát huy vai trò điều phối ở chính điểm giao thoa này: kết nối đúng hội chuyên ngành, lựa chọn đúng chuyên gia, tổ chức phương pháp nghiên cứu chung và bảo đảm chất lượng sản phẩm cuối cùng. Vai trò điều phối không thay thế trách nhiệm chuyên môn của các hội, mà tạo điều kiện để thế mạnh của mỗi hội được sử dụng đúng chỗ và tạo ra giá trị bổ sung.
Từ thực tiễn ngành địa chất và khoáng sản, TS. Phạm Ngọc Sơn chỉ ra bốn điểm nghẽn gồm cơ chế phối hợp chưa chặt chẽ, thông tin về năng lực chuyên gia còn phân tán, điều kiện bảo đảm chất lượng nghiên cứu hạn chế và yêu cầu độc lập, khách quan chưa được bảo đảm đầy đủ. Để khắc phục, ông đề xuất xây dựng mạng lưới chuyên gia liên ngành dùng chung; ban hành quy chế phối hợp giữa các hội theo từng nhiệm vụ; thống nhất quy trình phản biện và tăng cường thẩm định độc lập.
![]() |
| Quang cảnh hội thảo “Giải pháp phát huy vai trò của Liên hiệp Hội Việt Nam là cầu nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức KH&CN với cơ quan Đảng, Nhà nước và MTTQ trong các hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội”. |
Cùng đề cập vấn đề kết nối chuyên gia, TS. Đỗ Nguyên Hưng, Tổng Thư ký Hội Tự động hóa Việt Nam, trong tham luận “Kết nối chuyên gia liên ngành phục vụ phản biện chính sách của Liên hiệp Hội Việt Nam”, nhấn mạnh kết nối chuyên gia liên ngành là yêu cầu cần thiết để nâng cao chất lượng tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.
Từ kinh nghiệm tham gia hoạt động của Hội Tự động hóa Việt Nam, ông cho rằng những hạn chế về dữ liệu chuyên gia, sự thiếu đồng bộ trong phối hợp giữa các hội và việc chưa theo dõi đầy đủ kết quả xử lý kiến nghị đang ảnh hưởng đến hiệu quả phản biện. Khi mỗi nhóm chuyên gia sử dụng giả định hoặc hệ thống dữ liệu khác nhau, sản phẩm cuối cùng dễ trở thành tập hợp nhận xét rời rạc, chưa hình thành được luận cứ liên ngành thống nhất.
TS. Đỗ Nguyên Hưng đề xuất mô hình điều phối mạng lưới chuyên gia trên nền tảng số, trong đó Liên hiệp Hội giữ vai trò điều phối chung; các hội thành viên chịu trách nhiệm chuyên môn; nhóm thực hiện có phân công rõ về nghiên cứu, tổng hợp bằng chứng và tích hợp báo cáo. Mỗi nhiệm vụ cần xác định ngay từ đầu vấn đề cần giải quyết, cơ quan sử dụng kết quả và sản phẩm đầu ra.
Theo ông, cơ sở dữ liệu chuyên gia phải được cập nhật, xác thực và phản ánh năng lực thực tế, công trình tiêu biểu, kinh nghiệm nghiên cứu cũng như khả năng tham gia từng nhiệm vụ. Quy trình phản biện cần gắn với hồ sơ kiến nghị và cơ chế theo dõi sau khi báo cáo được chuyển đến cơ quan có thẩm quyền.
![]() |
| TS. Đỗ Nguyên Hưng, Tổng Thư ký Hội Tự động hóa Việt Nam phát biểu tại hội thảo. |
Hoàn thiện cơ chế phối hợp, nâng cao trách nhiệm tiếp thu kiến nghị
Ở góc độ phối hợp giữa các tổ chức, tham luận của TS. Lê Mậu Nhiệm, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, nguyên Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học MTTQ Việt Nam, tập trung vào việc hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Liên hiệp Hội.
Theo ông, giá trị của phản biện không chỉ nằm ở việc ý kiến được ghi nhận trong biên bản hoặc báo cáo, mà phải thể hiện ở khả năng chuyển kiến nghị đến đúng cơ quan có thẩm quyền, được xem xét và có phản hồi rõ ràng. Điều này đòi hỏi cơ chế phối hợp phải bao quát toàn bộ quá trình, từ phát hiện vấn đề, lựa chọn chuyên gia, tiếp cận dữ liệu đến theo dõi kết quả xử lý.
Tham luận ghi nhận những kết quả đã đạt được trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp Hội. Riêng năm 2025, tổ chức này đã chủ trì hoặc phối hợp thực hiện 56 nhiệm vụ, gồm 12 đề tài, 26 hội thảo và 18 nhiệm vụ đột xuất, cấp bách. Tuy nhiên, số lượng nhiệm vụ mới phản ánh quy mô hoạt động, chưa đủ đánh giá hiệu quả nếu chưa xem xét chất lượng kiến nghị và mức độ sử dụng kết quả phản biện.
TS. Lê Mậu Nhiệm đề xuất xây dựng quy chế phối hợp chuyên đề giữa hai bên, xác định rõ thẩm quyền, đầu mối, trách nhiệm cung cấp hồ sơ, lựa chọn chuyên gia, kinh phí và cơ chế theo dõi kết quả. Hai bên cần chủ động đề xuất nhiệm vụ từ sớm, thay vì chủ yếu tham gia khi dự thảo chính sách đã hình thành hoặc thời gian góp ý quá ngắn.
![]() |
| Đồng chí Nguyễn Quyết Chiến, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Tổng thư ký Liên hiệp Hội chủ trì hội thảo. |
Cùng chủ đề này, ông Ngô Việt Dũng, Ban Công tác Hội quần chúng, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đề cập việc đổi mới cơ chế phối hợp giữa Mặt trận và Liên hiệp Hội nhằm phát huy tốt hơn vai trò cầu nối của đội ngũ trí thức.
Theo ông, Liên hiệp Hội có lợi thế về mạng lưới hội thành viên, tổ chức khoa học và công nghệ cùng đội ngũ trí thức đông đảo. Trong khi đó, Mặt trận có khả năng nắm bắt những vấn đề nảy sinh từ đời sống, tổng hợp ý kiến và lợi ích của Nhân dân để lựa chọn nội dung giám sát, phản biện xã hội.
Hai bên cần bổ trợ chức năng, tránh chồng chéo và tăng cường trao đổi thông tin. Liên hiệp Hội cần chủ động tổng hợp đề xuất của các hội thành viên, xác định những vấn đề có ý nghĩa thực tiễn, tác động rộng hoặc mang tính liên ngành để kiến nghị đưa vào chương trình phối hợp hằng năm.
Ông Ngô Việt Dũng cũng đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên gia khoa học, tăng cường kết nối với các bộ, ngành và địa phương, đồng thời hoàn thiện cơ chế theo dõi, tổng hợp và phản hồi kết quả tiếp thu sau phản biện. Những nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước cần xác định rõ sản phẩm đầu ra, cơ quan giao nhiệm vụ và nguồn kinh phí theo quy định.
Tại hội thảo đã có rất nhiều đại biểu với những tham luận về nhiều vấn đề khác nhau, nhưng có thể thấy, Liên hiệp Hội cần phát huy vai trò đầu mối kết nối các hội thành viên, xây dựng dữ liệu chuyên gia có kiểm chứng và tổ chức các nhóm nghiên cứu theo từng vấn đề chính sách. Cách làm này giúp huy động đúng người, đúng chuyên môn, đồng thời kết hợp tri thức khoa học với kinh nghiệm thực tiễn và yêu cầu quản lý.
Hoạt động phản biện cần được triển khai từ sớm, có kế hoạch, quy trình và nguồn lực phù hợp. Cơ quan xây dựng chính sách cần tạo điều kiện tiếp cận hồ sơ, dữ liệu; các hội cần bảo đảm tính độc lập, khách quan và trách nhiệm khoa học trong quá trình nghiên cứu.
Cần hình thành cơ chế theo dõi xuyên suốt từ đề xuất vấn đề đến tiếp nhận, chuyển tải và phản hồi kiến nghị. Kết quả phản biện không chỉ được đánh giá bằng số lượng hội thảo, báo cáo hay chuyên gia tham gia, mà quan trọng hơn là chất lượng luận cứ, tính khả thi của giải pháp và mức độ sử dụng kết quả trong quá trình hoàn thiện chính sách.
![]() |
| Từ thực tiễn hoạt động của các hội chuyên ngành cùng các tham luận cùng chỉ ra một yêu cầu: Liên hiệp Hội không chỉ dừng ở vai trò tập hợp chuyên gia mà cần phát huy năng lực điều phối tri thức, tổ chức phản biện liên ngành và theo dõi hiệu quả sử dụng các kiến nghị. |
Những nội dung trao đổi tại hội thảo đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ tập hợp trí thức sang tổ chức và phát huy trí tuệ; từ phối hợp theo từng vụ việc sang cơ chế thường xuyên; từ hoàn thành báo cáo sang theo dõi giá trị thực tế của kiến nghị. Đây là hướng đi nhằm phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam giữa đội ngũ trí thức với cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao chất lượng tư vấn, phản biện và giám định xã hội trong giai đoạn mới.
Đường dẫn bài viết: https://tudonghoangaynay.vn/lien-hiep-hoi-viet-nam-phat-huy-vai-tro-dieu-phoi-tri-tue-lien-nganh-24211.htmlIn bài viết
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2024 https://tudonghoangaynay.vn/ All right reserved.