Một đất nước có năng lực sản xuất lớn, hơn 360 tỷ đô/năm, xuất khẩu (chưa kể du lịch) là trên 550 tỷ đô/năm, mỗi năm Việt Nam vận chuyển hơn 90 triệu hành khách trong và ngoài nước. Những con số trên cho thấy chắc chắn đây là thị trường hấp dẫn cho Logistics tại Việt Nam. Vậy nhưng tại sao Logistics vẫn chưa là trụ đỡ của nền kinh tế? Đây là câu hỏi của ông Võ Trí Thành – Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và Cạnh tranh khi chủ trì Tọa đàm “Cách thức chuyển đổi số hiệu quả cho các doanh nghiệp dịch vụ Logicstics” diễn ra ngày 15/12 tại Hà Nội.

Logistics “hot” không phải vì mang lại hiệu quả kinh tế lớn
Tại tọa đàm, ông Võ Trí Thành nhấn mạnh, ngoài lý do là Việt Nam có nhiều lợi thế về thị trường vận tải còn có có lý do khác để Logistics trở nên “hot”. Đó là vì Logistics tại Việt Nam còn nhiều hạn chế, được nhắc đến nhiều trong các diễn đàn đầu tư. Cách đây 5-7 năm Logistics cao so với GPD của nền kinh tế, chiếm đến 27%, giờ khoa học công nghệ phát triển vẫn còn chiếm 17% và cao hơn nhiều các nước trong khu vực. Chính phủ, các cơ quan quản lý, các doanh nghiệp làm trong ngành dịch vụ đã nhiều lần đưa ra “mổ xẻ”, bàn luận, tìm giải pháp trong nhiều năm.
Theo số liệu báo cáo của Bộ Công thương, tính đến năm 2019, chỉ số hiệu quả Logistics LPI của Việt Nam do Ngân hàng Thế giới đưa ra xếp thứ 39/160 nước tham gia khảo sát, tăng 25 bậc so với năm 2016 (64/160). Trong ASEAN, Việt Nam đứng sau hai nước là Singapore (thứ 7) và Thái Lan (thứ 32). Với một số Một số nước khác đáng quan tâm là Hoa Kỳ (thứ 14), Australia (thứ 18), Hàn Quốc (thứ 25), Trung Quốc (thứ 26), Malaysia (thứ 41), Ấn Độ (thứ 44), Indonesia (thứ 46), Nga (thứ 75). Chỉ số LPI có cải thiện, nhưng Logistics vẫn chưa thực sự được như kỳ vọng.
Giá trị gia tăng Logistics thấp
Theo kết quả nghiên cứu của Vietnam Report, có khoảng trên 4.000 công ty vận tải và logistics tại Việt Nam hiện nay, trong đó 88% là doanh nghiệp trong nước, 10% doanh nghiệp liên doanh và 2% là doanh nghiệp nước ngoài. Mặc dù số lượng doanh nghiệp FDI trong ngành này ít nhưng lại chiếm 70-80% thị phần.
Báo cáo cũng chỉ ra rằng, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Vận tải và Logistics nội địa còn thấp so với doanh nghiệp FDI. Thị trường có tiềm năng nhưng các doanh nghiệp nội địa kinh doanh logistics chủ yếu cung ứng các dịch vụ cơ bản, hoặc cung cấp từng dịch vụ đơn lẻ như dịch vụ kho bãi, vận tải hàng hóa, giao nhận hàng hóa, bốc xếp, dịch vụ phân loại, đóng gói bao bì, lưu kho,…
Và thường chỉ đóng vai trò là nhà thầu phụ hay đại lý cho các công ty nước ngoài, cạnh tranh về giá là chủ yếu do đó ít giá trị gia tăng.
Không chỉ có giá trị gia tăng của Logistics thấp mà những hạn chế của Logistics cũng dẫn đến những hạn chế trong thu hút FDI tại Việt Nam, nhất là ở khu vực tỉnh lẻ.
Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đánh giá, Việt Nam là trung tâm vận tải logistics đang phát triển nhưng chi phí ở mức cao như vậy đã khiến Việt Nam trở nên kém hấp dẫn hơn, đặc biệt là với các nhà đầu tư nước ngoài. EuroCham khuyến nghị Việt Nam cần cải thiện hạ tầng giao thông để phục vụ cho logistics, là yếu tố then chốt để thu hút FDI.
Chi phí vận tải cao
Bản chất của hoạt động Logistics là vận tải. Hiện chi phí vận tải lên đến 60%, chiếm tỷ trọng quá cao trong hoạt động Logistisc. Theo các doanh nghiệp, các chuyên gia kinh tế đây là nguyên nhân chính đẩy giá dịch vụ logistics lên.
Mổ xẻ nguyên nhân của chi phí cao, ông Bùi Gia Nghiêm, đại diện Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương cho rằng có 2 lý do cơ bản là hiện chúng ta chưa có bộ chỉ số chỉ tiêu để cắt giảm (Bộ Công Thương đang nghiên cứu đề xuất) và Việt Nam hiện cũng chưa có chiến lược quốc gia cho phát triển Logistisc để có thể tối ưu hóa hoạt động.
Đồng tình với ông Bùi Gia Nghiêm, ông Nguyễn Hoàng Long, Phó Tổng giám đốc Tổng Công ty Bưu chính Viettel cho rằng, hoạt động Logistics có 3 mảng: kho bãi, công ty dịch vụ và nền tảng công nghệ. ở Việt Nam hiện đường đi thì nhiều, chật hẹp, xe nhiều, ùn tắc giao thông. Số liệu của Tổng Cục đường bộ còn cho thấy đến 70% xe rỗng chiều về, gây lãng phí. Ở Trung Quốc, Singapore và nhiều nước châu Âu đều phải có Logistics Park. Các khu công viên kho bãi này được nhận ưu đãi trong đầu tư. Trong khi đó nước ta chưa có quy hoạch cho Logistics rõ ràng, tầm cỡ. Hay điển hình như ở Đức, họ chỉ có 2 công ty chuyển phát xuất sắc, trọng tâm được Chính phủ Đức quy hoạch. Đây là mô hình kinh tế tập trung. Họ phát triển tốt thị trường trong nước, xây dựng nguồn lực đủ mạnh rồi vươn ra khu vực châu Âu và toàn cầu. Còn ở Việt Nam hiện doanh nghiệp logistics nước ngoài đầu tư tràn lan, chúng ta dễ mất kiểm soát, mất thị trường. “Nếu chúng ta không có chính sách ở tầm vĩ mô sẽ hết sức sai lầm”. Ông Long khẳng định.
Chuyển đổi số, cánh cửa cho Logistic phát huy hiệu quả
Kết quả nghiên cứu của Vietnam Report chỉ ra rằng, ngành Vận tải và Logistics của Việt Nam có tiềm năng phát triển lớn, hoàn toàn có thể tham gia sâu hơn vào những trung tâm giao dịch vận tải thế giới, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, để làm được điều đó, 72,73% số doanh nghiệp được hỏi cho rằng cần ưu tiên nâng cao chất lượng dịch vụ logistics, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh, xây dựng chính sách giá cả cạnh tranh bởi xu thế hiện nay các nước phát triển đang từng bước thực hiện E-Logistics, green logisitics, E-Documents,… Logistics cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ điện toán đám mây, công nghệ Blockchain, trí tuệ nhân tạo hay robot vào thực hiện một số dịch vụ, như dịch vụ đóng hàng vào container hay dỡ hàng khỏi container, xếp dỡ hàng hóa trong kho, bãi,…
Ông Nguyễn Hoàng Long cho rằng: Một là cần có sự tham gia quy hoạch chiến lược của Chính phủ; Hai là phải có sự đầu tư công nghệ để có sự kết nối chia sẻ nguồn lực dùng chung; Ba là có cơ chế chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp khởi nghiệp Logistics giúp các doanh nghiệp dịch vụ chuyển đổi số được nhằm tối ưu vận hành.
“Logistics là một chuỗi mắt xích liền mạch với nhau nhưng ở Việt Nam chưa có sự tương tác, kết hợp tốt các mắt xích đó, chưa có hiệu quả kết nối”. Do đó, bà Nguyễn Hoàng Anh – Giám đốc điều hành và đồng sáng lập Công ty Abivin cho rằng cần có sự đầu tư công nghệ để tối ưu vận hành, cắt giảm chi phí”. Nhưng bà Nguyễn Hoàng Anh cũng cho rằng chuyển đổi số cần sự cam kết hành trình lâu dài từ phía doanh nghiệp. Chuyển đổi số không thể ngày một ngày hai là kết thúc, nhất là nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam còn phải có lộ trình đi từ số hóa hoạt động rồi mới tiến tới chuyển đổi số.
Với thực trạng của Logistics Việt Nam hiện nay, ông Nguyễn Tương Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) cũng khuyến nghị cầu chuyển đổi số hoạt động Logistics để theo kịp trình độ phát triển của Logistics thế giới trong điều kiện Covid-19. Đồng thời, để chuyển đổi số thành công, ông Nguyễn Tương cho rằng Nhà nước cần hỗ trợ cải cách thủ tục hành chính liên quan, hỗ trợ nguồn vốn có thể nhất để doanh nghiệp đi đầu trong chuyển đổi số.
Bảo Hà