| Từ chuyển đổi số phong trào đến kiến tạo năng lực công nghệ quốc gia |
Năng lực công nghệ của doanh nghiệp Việt, nhìn từ thực tế
Các báo cáo của World Bank và OECD cho thấy Việt Nam đã tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên ở cấp độ tổng thể, các chỉ số cho thấy năng lực công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam vẫn đang ở mức khiêm tốn so với khu vực và thế giới. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê và World Bank, hơn 95% doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), với quy mô vốn, nhân lực và khả năng đầu tư công nghệ còn hạn chế. Phần lớn doanh nghiệp hiện vẫn tham gia ở khâu gia công - lắp ráp, giá trị gia tăng thấp, phụ thuộc vào công nghệ và đơn hàng từ bên ngoài. Điều này khiến khả năng tích lũy và phát triển năng lực công nghệ lõi gặp nhiều rào cản. Bên cạnh đó, liên kết giữa doanh nghiệp nội địa và khu vực FDI còn yếu, làm giảm khả năng lan tỏa công nghệ.
Một trong những điểm nghẽn lớn là mức đầu tư cho nghiên cứu - phát triển (R&D) còn rất thấp. Tại phiên thảo luận về dự thảo Nghị quyết thí điểm chính sách đặc thù cho khoa học công nghệ ngày 17/2/2025, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng cho biết, chi cho R&D của Việt Nam hiện chỉ khoảng 0,5% GDP, bằng một phần tư so với mục tiêu 2%.
So sánh trên bình diện quốc tế, theo World Bank, mức chi R&D trung bình toàn cầu năm 2021 đạt khoảng 2,62% GDP, cao gấp hơn 5 lần Việt Nam. Điều này cho thấy khoảng cách rất lớn về mức độ đầu tư cho công nghệ. Hệ quả là năng suất lao động của Việt Nam vẫn ở mức thấp, còn khoảng cách đáng kể so với nhiều nền kinh tế châu Á. Đồng thời, tỷ lệ doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp làm chủ công nghệ lõi vẫn chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng thể nền kinh tế.
Theo Báo cáo KH&CN và đổi mới sáng tạo (ĐMST) Việt Nam năm 2024 của Bộ Khoa học và Công nghệ, trụ cột Trình độ phát triển của doanh nghiệp của Việt Nam trong GII 2024 ghi nhận mức cải thiện nhẹ, tăng 3 bậc, từ vị trí 49 lên 46. Mặc dù chưa phải là bước đột phá, kết quả này vẫn phản ánh tín hiệu tích cực trong bối cảnh doanh nghiệp ngày càng đóng vai trò trung tâm trong hệ sinh thái ĐMST. Tuy nhiên, bên trong sự cải thiện về thứ hạng tổng thể là một bức tranh phát triển chưa đồng đều giữa các nhóm chỉ số thành phần, cho thấy dư địa cải thiện trong trụ cột này vẫn còn lớn.
![]() |
| Trụ cột Trình độ phát triển của doanh nghiệp của Việt Nam trong GII 2024 ghi nhận mức cải thiện nhẹ, tăng 3 bậc, từ vị trí 49 lên 46. |
Mới đây, tại Hội nghị quán triệt, triển khai Nghị quyết đại hội XIV của Đảng (diễn ra ngày 7/4/2026), ông Lê Xuân Định, Thứ trường Bộ Khoa học và Công nghệ dẫn số liệu Kinh tế số/GPD của Việt Nam năm 2025 đạt 14,2%, tăng trên 20% năm nhưng còn xa mục tiêu 30% GPD vào năm 2030; thương mại điện tử năm 2025 đạt trên 25 tỉ đô doanh thu bán lẻ; chỉ số đổi mới sáng tạo GII 2025 đạt 44/139, đứng thứ 2 trong nhóm thu nhập trung bình thấp. Theo Thứ trưởng, kết quả này chủ yếu phản ánh mở rộng về quy mô và ứng dụng nhưng chưa thể hiện rõ sự chuyển biến về chất của mô hình tăng trưởng. Việt Nam có nền tảng nhưng chưa tạo chuyển biến cấu trúc. Khoa học công nghệ chưa là lực lượng sản xuất trực tiếp ở quy mô lớn.
TS. Nguyễn Quân - Chủ tịch Hội Tự động hóa Việt Nam cho rằng hiện khoảng 98% doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa, chủ yếu thuộc khu vực tư nhân, ngày càng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Sự kết hợp giữa khu vực này với các tập đoàn kinh tế nhà nước được kỳ vọng sẽ tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn thiếu các tập đoàn công nghiệp công nghệ cao đủ sức tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
"Hiện nay, doanh nghiệp công nghệ Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế và chưa thực sự có nhiều kỳ lân công nghệ. Nhìn lại, chúng ta chỉ thấy một số tên tuổi lớn như FPT, CMC, hay PHENIKAA,... nhưng thực tế họ vẫn phải hoạt động đa ngành để tồn tại. Điều này khiến cho họ không thể tập trung hoàn toàn vào phát triển công nghệ. Trong khi đó, ở các quốc gia khác, như Microsoft hay Google, họ hoàn toàn tập trung vào công nghệ. Điều này cho thấy rằng, để phát triển mạnh mẽ, các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam cần đầu tư hơn nữa vào nghiên cứu và phát triển, đồng thời cần có một môi trường pháp lý và chính sách hỗ trợ tốt hơn từ Nhà nước".
Về năng lực công nghệ, nhìn chung các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam vẫn còn ở mức lạc hậu; hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất thiếu đồng bộ và chậm được đổi mới. Đặc biệt, khu vực doanh nghiệp trong nước, chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn hạn chế về nguồn lực tài chính, nên khả năng đầu tư cho công nghệ chưa cao.
Theo Báo cáo thường niên chuyển đổi số doanh nghiệp Việt Nam năm 2023 của Cục Phát triển Doanh nghiệp, Bộ Tài chính cho thấy mức độ sẵn sàng chuyển đổi số của doanh nghiệp trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo hầu như không cải thiện so với năm trước, duy trì ở mức 2,9 điểm (trên mức trung bình là 2,5). Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những rào cản về nguồn vốn đầu tư cho hạ tầng, máy móc và thiết bị, khiến quá trình chuyển đổi số chưa thể triển khai đồng bộ.
Theo kết quả điều tra, năm 2023 của Bộ KH và CN, các hoạt động ĐMST trong doanh nghiệp dưới hình thức mua sắm, thuê công nghệ, máy móc, phần mềm chiếm tỷ lệ lớn nhất là 44,5% số doanh nghiệp được điều tra, tiếp theo là tự thực hiện NC&PT với 43,8%, tiếp theo là hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, kỹ năng về ĐMST cho nhân viên (38,4%), hoạt động tiếp thị và tài sản thương hiệu là 27,4%; hình thức ĐMST thấp nhất là Mua tri thức/thương hiệu từ bên ngoài (4,2%).
Trong năm 2023, số doanh nghiệp thực hiện đổi mới cả sản phẩm và quy trình đã tăng lên, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa lần lượt chiếm 13,1% và 20,6% số doanh nghiệp điều tra từ mức 5,7% và 9,9% trong năm trước.
![]() |
| Hình thức đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp năm 2023. Nguồn: Bộ KH&CN |
![]() |
| Thực trạng thực hiện đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp. |
![]() |
| Thực trạng thực hiện đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp theo quy mô doanh nghiệp năm 2023 |
Tuy nhiên, trong bức tranh đó cũng đã xuất hiện những tín hiệu tích cực. Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng đánh giá cao cộng đồng doanh nghiệp công nghệ Việt Nam - những đơn vị “chọn con đường khó nhất” khi theo đuổi công nghệ lõi, phát triển sản phẩm và nền tảng. Theo ông, để một quốc gia có thể đi nhanh và đi xa, cần có lực lượng doanh nghiệp dám đi vào những lĩnh vực chưa có tiền lệ, đóng vai trò dẫn dắt trong kỷ nguyên mới.
Từ góc nhìn đó, vấn đề không chỉ là doanh nghiệp Việt đang ở đâu, mà còn là họ sẽ trở thành ai trong bối cảnh công nghệ toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng.
Từ nhà máy nhìn ra: Công nghệ đang được sử dụng ra sao?
Theo khung chỉ số VSMI (VAA Smart Maturity Index) do AVATECH phối hợp cùng VAA xây dựng, năng lực công nghệ của doanh nghiệp hiện đang ở mức chuyển đổi số nâng cao, từng bước hướng tới mô hình doanh nghiệp thông minh. Để đáp ứng được xu hướng này của các nhà máy sản xuất, AVATECH lựa chọn chiến lược “công nghệ lai” (Hybrid Technology), trong đó doanh nghiệp tập trung làm chủ lõi AI và phần mềm, đồng thời tận dụng các thiết bị phần cứng tiên tiến từ những đối tác hàng đầu thế giới.
Ở phần công nghệ cốt lõi được ví như “bộ não” của hệ thống, AVATECH tự phát triển các nền tảng quan trọng như phần mềm aVisXDL tích hợp AI, hệ thống aCloud. Trong khi đó, ở phần “cơ thể” của hệ thống, AVATECH sử dụng các thiết bị phần cứng như camera, robot và hệ thống thị giác máy từ các đối tác G7, nhằm đảm bảo độ chính xác và độ tin cậy trong vận hành.
![]() |
| Phần mềm aVisXDL tích hợp AI do AVATECH tự phát triển. Ảnh: AVATECH |
Ông Đoàn Nam Thái - Giám đốc AVATECH cho rằng doanh nghiệp xây dựng bộ phận R&D như “hạt nhân” vận hành, đóng vai trò quyết định năng lực công nghệ và khả năng cạnh tranh. Với mô hình tinh gọn nhưng chuyên sâu, R&D không chỉ là một phòng ban mà là trung tâm phát triển sản phẩm, được dẫn dắt bởi các chuyên gia trình độ cao trong lĩnh vực AI và cơ điện tử.
Các hướng nghiên cứu tập trung vào AI Vision - phát triển thuật toán xử lý ảnh và deep learning cho các bài toán đặc thù; thiết kế cấu trúc máy nhằm tối ưu sự phối hợp giữa cơ khí chính xác và hệ thống thị giác; đồng thời mở rộng sang các công nghệ mới như đo lường 3D, ảnh nhiệt, X-ray và công nghệ đa phổ.
Chi phí cho R&D hiện chiếm khoảng 10-15% tổng chi phí hoạt động, được phân bổ theo hướng tối ưu hiệu quả, tập trung vào các hạng mục cốt lõi như nhân sự chuyên gia, bản quyền phần mềm, thiết bị thử nghiệm và phát triển công nghệ.
![]() |
| AVATECH tập trung thiết kế cấu trúc máy (aVisBot5000, aVisShaft5001) để tối ưu hóa sự phối hợp giữa cớ khí chính xác và các thiết bị Vision tân tiến. Ảnh: AVATECH |
Theo ông Nguyễn Đức Tài - CEO Lumi Việt Nam, nhà máy của Lumi hiện vận hành ở mức bán tự động, với mức độ tự động hóa khoảng 50% so với các doanh nghiệp nước ngoài. Quy mô hiện tại khoảng 6.000m² và dự kiến mở rộng lên 10.000m² trong thời gian tới.
Do định vị ở phân khúc cao cấp, Lumi đầu tư đồng bộ máy móc mới từ Mỹ và Nhật Bản nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, điểm cốt lõi không nằm ở thiết bị mà ở việc doanh nghiệp tự phát triển toàn bộ công nghệ và quy trình sản xuất. Để cạnh tranh trên thị trường, Lumi không lựa chọn đi theo giá mà tập trung vào nghiên cứu - phát triển nhằm tạo ra sản phẩm có tính năng vượt trội. Vì vậy, R&D là lĩnh vực được ưu tiên đầu tư lớn nhất trong doanh nghiệp.
Lumi duy trì đội ngũ R&D khoảng 50 người, trong đó có 15 kỹ sư trực tiếp tại nhà máy, tập trung tối ưu quy trình theo phương pháp Kaizen. Nhờ đó, doanh nghiệp có thể cải thiện năng suất từng bước nhỏ, thậm chí từng giây trong mỗi công đoạn để đạt mức tăng 20-30% sau một thời gian. Hiện chi phí cho R&D chiếm khoảng 60-65% tổng chi phí hoạt động, bao gồm nhân sự chất lượng cao, thiết bị nghiên cứu và phát triển sản phẩm mẫu. Tính theo doanh thu, Lumi dành khoảng 12% cho R&D, cao gấp nhiều lần mức trung bình của doanh nghiệp Việt Nam và tiệm cận các quốc gia có nền công nghệ phát triển.
![]() |
| Dây chuyền SMT hiện đại tại nhà máy Lumi. Ảnh: Lumi |
Ở một quy mô và chiều sâu khác, Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông - doanh nghiệp với hơn 65 năm phát triển đã đi qua nhiều giai đoạn: từ sản xuất thủ công, cơ giới hóa đến tự động hóa và hiện nay là robot hóa kết hợp trí tuệ nhân tạo.
Hầu hết các khâu sản xuất tại Rạng Đông đã được robot đảm nhiệm, trong đó đáng chú ý là việc doanh nghiệp tự lập trình phần mềm điều khiển, tích hợp các công nghệ như thị giác máy tính (Computer Vision) và robot hướng dẫn bằng thị giác (Vision Guided Robotics). Điều này cho phép hệ thống sản xuất vận hành linh hoạt, chính xác và có khả năng thích ứng cao.
Theo ông Nguyễn Đoàn Kết - Phó Tổng Giám đốc Thường trực, bất chấp bối cảnh kinh tế khó khăn, Rạng Đông vẫn duy trì mức đầu tư cho khoa học công nghệ khoảng 23% lợi nhuận sau thuế, trong đó khoảng 15% dành cho R&D và 7% cho các hoạt động đầu tư mạo hiểm. Nguồn lực này chủ yếu được sử dụng để nâng cao trình độ sản xuất, từng bước tự động hóa và thông minh hóa nhà máy.
Trọng tâm của doanh nghiệp là xây dựng nhà máy thông minh (Smart Factory), với nền tảng là robot hóa kết hợp trí tuệ nhân tạo và hệ thống kết nối IoT. Đặc biệt, Rạng Đông đẩy mạnh ứng dụng AI ngay tại dây chuyền sản xuất nhằm tăng tính linh hoạt, đáp ứng nhanh các đơn hàng đa dạng, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh cả ở thị trường trong nước và xuất khẩu.
![]() |
| Từ năm 2020, Công ty CP Bóng đèn phích nước Rạng Đông đã dày công thực hiện Đề án chuyển đổi số với ý chí và kế hoạch rõ ràng, nhờ đó Rạng Đông từ doanh nghiệp sản xuất truyền thống đã dần chuyển thành doanh nghiệp số và mang lại nhiều giá trị |
![]() |
| Dây chuyền gắn chip LED tự động tại Rạng Đông |
Tuy nhiên, những trường hợp điển hình như AVATECH, Lumi hay Rạng Đông vẫn chưa phản ánh toàn bộ bức tranh. Trên thực tế, mức độ ứng dụng công nghệ giữa các ngành và doanh nghiệp tại Việt Nam đang có sự phân hóa rất rõ rệt.
Ở nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo phục vụ xuất khẩu như điện tử, ô tô, thiết bị điện…, đặc biệt trong các nhà máy có sự tham gia của doanh nghiệp FDI hoặc doanh nghiệp nội địa quy mô lớn, mức độ tự động hóa và tiêu chuẩn công nghệ đã tiệm cận quốc tế. Đây là những lĩnh vực chịu áp lực cao về chất lượng, năng suất và chuỗi cung ứng toàn cầu, buộc doanh nghiệp phải đầu tư bài bản vào robot, AI, hệ thống quản trị sản xuất và kiểm soát chất lượng. Nhưng cũng giống như các doanh nghiệp "mới nổi" nêu trên số lượng các doanh nghiệp này không nhiều.
Điển hình như VinFast - doanh nghiệp đã xây dựng tổ hợp sản xuất tại Hải Phòng theo mô hình nhà máy hiện đại, với mức độ tự động hóa cao, sử dụng hàng nghìn robot công nghiệp từ các đối tác toàn cầu để thực hiện các công đoạn như hàn, sơn, lắp ráp. Theo giới thiệu của doanh nghiệp, nhiều phân xưởng đạt mức tự động hóa gần như hoàn toàn, giúp đảm bảo độ chính xác và năng suất ở quy mô lớn.
![]() |
| VinFast xây dựng tổ hợp sản xuất tại Hải Phòng theo mô hình nhà máy hiện đại, với mức độ tự động hóa cao |
Trong lĩnh vực thực phẩm - đồ uống, Vinamilk là một trong những doanh nghiệp tiên phong xây dựng mô hình “nhà máy sữa thông minh”, ứng dụng tự động hóa và hệ thống quản trị sản xuất tích hợp. Các nhà máy của Vinamilk được vận hành với dây chuyền khép kín, tự động hóa cao, từ khâu nguyên liệu đầu vào đến đóng gói sản phẩm, kết hợp hệ thống ERP và IoT để kiểm soát chất lượng theo thời gian thực.
Tương tự, TH True Milk cũng đầu tư mạnh vào công nghệ cao trong toàn bộ chuỗi giá trị, từ trang trại đến nhà máy chế biến. Doanh nghiệp này ứng dụng công nghệ quản lý đàn bò, cảm biến, dữ liệu lớn và tự động hóa trong sản xuất sữa, tạo nên mô hình nông nghiệp công nghệ cao khép kín - một trong những mô hình hiếm hoi tại Việt Nam đạt chuẩn quốc tế.
Ngược lại, ở phần lớn các ngành công nghiệp hỗ trợ, cơ khí nhỏ, dệt may, chế biến thực phẩm quy mô vừa và nhỏ, mức độ công nghệ vẫn dừng ở cơ giới hóa hoặc bán tự động. Nhiều doanh nghiệp vẫn phụ thuộc vào máy móc nhập khẩu, thiếu năng lực tự phát triển công nghệ, trong khi nguồn lực hạn chế khiến họ khó đầu tư vào các hệ thống tự động hóa và chuyển đổi số quy mô lớn.
Nguyên nhân không chỉ đến từ bài toán vốn, mà còn nằm ở quy mô sản xuất nhỏ, đơn hàng thiếu ổn định và áp lực chi phí ngắn hạn, khiến doanh nghiệp khó theo đuổi các chiến lược đầu tư công nghệ dài hạn. Bên cạnh đó, hạn chế về nhân lực kỹ thuật và năng lực quản trị cũng khiến việc triển khai công nghệ mới gặp nhiều rào cản.
Vì vậy, nếu nhìn từ “bên trong nhà máy”, có thể thấy mức độ công nghệ trong các doanh nghiệp tại Việt Nam không phát triển đồng đều, mà tồn tại song song nhiều nhóm: Số ít doanh nghiệp "mới nổi" có ý chí và khát vọng hiện đại hóa, nâng cao năng lực canh tranh, đã thành công bước đầu nhưng vẫn đang vừa "ném đá vừa dò đường" theo từng giai đoạn. Một nhóm ít doanh nghiệp đang tiến nhanh tới mô hình sản xuất thông minh, trong khi phần lớn vẫn loay hoay ở ngưỡng cơ giới hóa và bán tự động. Khoảng cách này chính là thách thức lớn trong quá trình nâng cấp năng lực công nghệ của toàn bộ khu vực doanh nghiệp.
Khoảng cách với doanh nghiệp quốc tế: Không chỉ là công nghệ
Dù có những bước tiến rõ rệt, khoảng cách giữa doanh nghiệp Việt Nam và quốc tế vẫn tồn tại.
Ông Nguyễn Đức Tài nêu rõ, doanh nghiệp Việt Nam có lợi thế ở khả năng tiếp cận nhanh và vận hành tốt máy móc, thậm chí nhiều chỉ số hiệu suất của Lumi hiện đã vượt mức trung bình ngành. Tuy nhiên, khoảng cách lớn vẫn nằm ở quy mô và năng lực tổ chức sản xuất hàng loạt.
|
“Với sản xuất quy mô lớn, các doanh nghiệp FDI có hệ thống quy trình chặt chẽ hơn để kiểm soát chất lượng. Lumi hiện mới đạt khoảng 60% năng lực tổ chức sản xuất so với họ”, ông cho biết. Cũng theo ông Tài, trong khi doanh nghiệp Việt Nam trung bình chỉ chi khoảng 0,47% doanh thu cho R&D, thì tại các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Trung Quốc, con số này dao động từ 3-4%, còn Mỹ khoảng 5%. Điều này cho thấy khoảng cách lớn về mức độ đầu tư cho công nghệ giữa Việt Nam và thế giới.
Dù vậy, doanh nghiệp cũng đang từng bước cải thiện. Lumi đã đáp ứng tiêu chuẩn gia công cho đối tác Nhật Bản - thị trường có yêu cầu kiểm định rất khắt khe. Từ đơn hàng đầu tiên 130.000 sản phẩm, đến nay quy mô đã tăng lên 500.000 sản phẩm, cho thấy sự nâng cấp rõ rệt về quy trình và năng lực sản xuất.
Theo ông Nguyễn Đoàn Kết, khi đầu tư dây chuyền công nghệ, Rạng Đông ưu tiên mục tiêu tạo ra các sản phẩm và giải pháp có giá trị cốt lõi như xanh, thông minh, tiết kiệm năng lượng và có khả năng tạo dữ liệu.
Để thực hiện điều này, doanh nghiệp lựa chọn cách đi “hai chân”: vừa đầu tư các dây chuyền tiên tiến từ các nước phát triển như Nhật Bản, Mỹ, Đức để từng bước xây dựng nhà máy thông minh, vừa chủ động học hỏi và tự phát triển các dây chuyền phù hợp với đặc thù sản xuất trong nước. Không dừng ở thiết bị, Rạng Đông còn tự phát triển phần mềm để tích hợp vào dây chuyền, giúp hệ thống vận hành thông minh hơn, có khả năng kết nối và thích ứng linh hoạt trong toàn bộ quy trình sản xuất.
Ông Nguyễn Đoàn Kết cho biết sự khác biệt lớn nhất giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp FDI nằm ở nguồn lực và nền tảng phát triển. Các doanh nghiệp FDI thường có hậu thuẫn từ tập đoàn mẹ ở nước ngoài, với tiềm lực mạnh về tài chính, khoa học công nghệ và hệ thống quản trị, trong khi doanh nghiệp trong nước còn hạn chế về vốn, nhân lực và khả năng tiếp cận tri thức.
Bên cạnh đó, yếu tố cơ chế, chính sách cũng tạo ra khoảng cách nhất định, khi trong một thời gian dài, các ưu đãi chủ yếu tập trung vào khu vực FDI, khiến doanh nghiệp trong nước gặp nhiều khó khăn hơn trong quá trình phát triển.
"Một điểm khác biệt nữa là cách tiếp cận thị trường. Doanh nghiệp FDI thường hoạt động theo chu kỳ dự án và có thể rút khỏi thị trường, trong khi doanh nghiệp trong nước gắn bó lâu dài hơn, chịu trách nhiệm trực tiếp với cộng đồng và nền kinh tế. Tuy nhiên, họ cũng phải đối mặt với nhiều hạn chế, từ trình độ công nghệ, năng lực quản trị đến chất lượng nguồn nhân lực", ông Kết nhận định.
![]() |
| Ông Nguyễn Đoàn Kết cho biết sự khác biệt lớn nhất giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp FDI nằm ở nguồn lực và nền tảng phát triển. Ảnh: Bích Ngọc |
Theo AVATECH, doanh nghiệp hiện đã làm chủ phần công nghệ cốt lõi, được ví như “bộ não” của hệ thống. Cụ thể, công ty tự phát triển hoàn toàn phần mềm điều khiển và giao diện, có khả năng tùy biến sâu các thuật toán AI để xử lý những bài toán kiểm tra lỗi phức tạp mà các giải pháp đóng gói khó đáp ứng. Đồng thời, AVATECH cũng làm chủ thiết kế tổng thể hệ thống, từ việc kết hợp camera, ánh sáng đến cơ khí, cũng như quy trình huấn luyện và tối ưu các mô hình AI theo đặc thù từng sản phẩm.
Tuy nhiên, ở phần “cơ thể” của hệ thống, doanh nghiệp vẫn phụ thuộc vào các linh kiện phần cứng như cảm biến, thiết bị vision, cũng như năng lực gia công và triển khai trên quy mô lớn.
Theo ông Đoàn Nam Thái, sự khác biệt cốt lõi giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp FDI không chỉ nằm ở nguồn lực, mà sâu hơn là ở cách tiếp cận quản trị, công nghệ và vận hành.
Ở khía cạnh quản trị, doanh nghiệp FDI vận hành theo mô hình system-driven - dựa trên hệ thống quy trình chuẩn hóa, có tính kế thừa cao và ít phụ thuộc vào cá nhân. Trong khi đó, doanh nghiệp Việt Nam thường mang tính "founder-driven" - linh hoạt và phản ứng nhanh, nhưng phụ thuộc nhiều vào vai trò của lãnh đạo, khó chuẩn hóa khi mở rộng quy mô.
Về làm chủ công nghệ, doanh nghiệp FDI thường nắm giữ công nghệ lõi và sở hữu trí tuệ (IP), còn doanh nghiệp Việt chủ yếu đóng vai trò tích hợp và tùy biến công nghệ để giải các bài toán thực tế. Điều này giúp doanh nghiệp trong nước linh hoạt hơn, nhưng cũng khiến khả năng tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn còn hạn chế.
Sự khác biệt cũng thể hiện rõ ở tư duy đầu tư. Doanh nghiệp FDI sẵn sàng đầu tư lớn, dài hạn trong 10-20 năm để xây dựng nền tảng bền vững, trong khi doanh nghiệp Việt thường ưu tiên các giải pháp hiệu quả nhanh, chi phí thấp, có thể tạo tác động tức thì và thu hồi vốn trong ngắn hạn. Ở văn hóa vận hành, doanh nghiệp FDI đề cao chuẩn hóa, mọi hoạt động được thiết kế theo quy trình chặt chẽ để giảm thiểu sai số con người. Ngược lại, doanh nghiệp Việt có xu hướng linh hoạt, thích ứng nhanh với điều kiện thực tế, đặc biệt trong bối cảnh hạ tầng và tiêu chuẩn chưa đồng bộ.
Từ thực tế đó, ông Thái cho rằng doanh nghiệp Việt đang ở vị trí “trung gian”, tức có khả năng thích ứng nhanh, nhưng để bứt phá, cần từng bước chuyển từ tích hợp sang làm chủ công nghệ lõi, đồng thời nâng cấp năng lực quản trị theo hướng hệ thống và dài hạn.
![]() |
| Ông Đoàn Nam Thái giới thiệu các sản phẩm, thiết bị tại doanh nghiệp |
Ở chiều ngược lại, các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam đang vận hành theo một chuẩn mực hoàn toàn khác, cả về công nghệ lẫn quản trị. Lấy ví dụ như Samsung Electronics - tập đoàn hiện đang vận hành nhiều tổ hợp sản xuất quy mô lớn tại Việt Nam.
Với tổng vốn đầu tư hơn 20 tỷ USD, doanh thu hàng năm đạt khoảng 60-65 tỷ USD và đóng góp tới 12-13% kim ngạch xuất khẩu quốc gia, Samsung hiện là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam. Đáng chú ý, hơn một nửa sản lượng smartphone toàn cầu của tập đoàn được sản xuất tại đây, cho thấy Việt Nam đã trở thành cứ điểm sản xuất chiến lược trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Không chỉ dừng ở quy mô, Samsung còn xây dựng một hệ sinh thái công nghiệp với hơn 100.000 lao động và hàng trăm doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi cung ứng. Đồng thời, việc đầu tư trung tâm R&D quy mô lớn tại Hà Nội cũng cho thấy xu hướng dịch chuyển từ “sản xuất” sang “nghiên cứu và phát triển”, từng bước nâng vai trò của Việt Nam trong chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu.
Tại các nhà máy của Samsung, toàn bộ hệ thống sản xuất được thiết kế theo mô hình Smart Factory với mức độ tự động hóa cao, tích hợp sâu các công nghệ như robot công nghiệp, hệ thống thị giác máy, dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI). Không chỉ dừng ở dây chuyền, doanh nghiệp này còn xây dựng hệ thống quản trị sản xuất theo thời gian thực (real-time), cho phép kiểm soát chất lượng, năng suất và rủi ro ngay trong từng công đoạn.
Đáng chú ý, năng lực công nghệ của các doanh nghiệp FDI không chỉ nằm ở việc sử dụng thiết bị hiện đại, mà ở khả năng làm chủ toàn bộ chuỗi giá trị, từ nghiên cứu - phát triển sản phẩm, thiết kế, sản xuất đến tiêu chuẩn hóa quy trình toàn cầu. Các nhà máy tại Việt Nam thực chất là một phần trong hệ thống sản xuất toàn cầu, được vận hành theo cùng một bộ tiêu chuẩn với các cơ sở tại Hàn Quốc, Mỹ hay châu Âu.
![]() |
| Không chỉ là trung tâm sản xuất, Việt Nam còn là cứ điểm R&D lớn nhất Đông Nam Á của Samsung, thông qua Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển (R&D) khánh thành tại Hà Nội năm 2022 |
So với đó, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ tham gia ở một số khâu nhất định, chủ yếu là sản xuất hoặc tích hợp giải pháp. Khoảng cách vì vậy không chỉ nằm ở công nghệ đơn lẻ, mà là khoảng cách về hệ thống, từ nền tảng R&D, năng lực quản trị đến khả năng tổ chức sản xuất quy mô lớn.
Từ những lát cắt thực tế, có thể thấy doanh nghiệp Việt Nam đang đứng ở một nấc trung gian trong chuỗi giá trị công nghệ - đã bắt đầu làm chủ một phần, nhưng chưa đủ năng lực để bứt lên ở quy mô lớn và tạo lợi thế cạnh tranh bền vững. Câu hỏi đặt ra không chỉ là vị trí hiện tại, mà là con đường phía trước: làm thế nào để doanh nghiệp có thể tự nâng cấp năng lực công nghệ, vượt qua giới hạn về nguồn lực, quy mô và hệ thống? Câu trả lời không nằm ở một giải pháp đơn lẻ, mà đòi hỏi sự tích lũy dài hạn từ chính nội lực doanh nghiệp, cùng với một môi trường đủ “mở” để công nghệ được nuôi dưỡng, thử nghiệm và trưởng thành.
Bích Ngọc - Hương Duyên
