Trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực phát triển theo Nghị quyết 57-NQ/TW, lợi thế về tài nguyên hay vị trí địa lý sẽ không còn đủ để tạo sức hút đầu tư nếu thiếu hạ tầng số, nguồn nhân lực chất lượng cao và cơ chế liên kết hiệu quả giữa chính quyền, doanh nghiệp và các cơ sở nghiên cứu.
TS. Nguyễn Mạnh Cường, Phó Tổng Thư ký Hội Tự động hóa Việt Nam chia sẻ: Gia Lai hiện có một không gian phát triển rất đặc biệt: từ cao nguyên đến biển, từ rừng và các vùng nguyên liệu nông nghiệp đến công nghiệp, đô thị, cảng biển, logistics và kinh tế cửa khẩu. Đây không chỉ là sự cộng gộp về địa lý hay tài nguyên. Nếu được tổ chức tốt, đây có thể trở thành một hệ sinh thái phát triển liên kết giữa nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến, năng lượng tái tạo, logistics, du lịch và kinh tế số. Tuy nhiên, tiềm năng tự nó chưa tạo ra năng lực cạnh tranh.
Ông cho rằng điều quan trọng không phải Gia Lai sở hữu bao nhiêu lợi thế, mà là khả năng kết nối và chuyển hóa những lợi thế đó thành giá trị thông qua khoa học, công nghệ và các mô hình hợp tác phù hợp.
![]() |
| Theo TS. Nguyễn Mạnh Cường, Phó Tổng Thư ký Hội Tự động hóa Việt Nam làm thế nào để chuyển hóa tiềm năng, tri thức và công nghệ thành năng lực cạnh tranh thực sự cho địa phương và doanh nghiệp. Ảnh: Tùng Lâm |
Gia Lai hướng tới tăng trưởng mới
Tại diễn đàn, ông Nguyễn Trần Thi, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Đầu tư sở Tài chính tỉnh Gia Lai chia sẻ: Sau khi mở rộng địa giới hành chính, tỉnh có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế xanh, công nghiệp chế biến, năng lượng tái tạo, logistics và nông nghiệp công nghệ cao.
Giai đoạn 2026-2030, địa phương đặt mục tiêu duy trì tăng trưởng kinh tế hai con số, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là một trong ba đột phá chiến lược. Gia Lai cũng đang triển khai chương trình đào tạo khoảng 7.500 nhân lực trong các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và an toàn, an ninh mạng nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của các ngành công nghệ mới.
Song song với đó, Gia Lai tập trung thực hiện ba đột phá chiến lược gồm xây dựng chính quyền kiến tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh; đẩy mạnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đầu tư đồng bộ hệ thống hạ tầng giao thông, logistics, công nghiệp và hạ tầng số.
Hạ tầng được xem là một trong những lợi thế nổi bật của địa phương. Gia Lai hiện sở hữu mạng lưới giao thông đa phương thức với các tuyến quốc lộ huyết mạch, cao tốc Bắc - Nam, tuyến cao tốc Quy Nhơn - Pleiku, hai cảng hàng không Phù Cát và Pleiku, hai cảng biển Quy Nhơn và Phù Mỹ, cùng cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh - cửa ngõ quan trọng kết nối khu vực tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia.
Theo định hướng phát triển không gian, khu vực phía Đông sẽ ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, logistics, năng lượng tái tạo, công nghệ cao và du lịch biển; trong khi khu vực phía Tây tập trung phát triển nông nghiệp công nghệ cao, vùng nguyên liệu quy mô lớn, công nghiệp chế biến sâu, kinh tế cửa khẩu và các dự án năng lượng tái tạo…
Với những tiềm năng đã có Gia Lai cam kết tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất, luôn đồng hành cùng doanh nghiệp và đối tác, là điểm đến chiến lược của các nhà đầu tư trong tương lai.
![]() |
| Ông Nguyễn Trần Thi, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Đầu tư sở Tài chính tỉnh Gia Lai tại hội thảo. Ảnh Tùng Lâm |
Thiếu nhân lực mới là rào cản lớn nhất
Một trong những nội dung thu hút nhiều ý kiến tại diễn đàn là bài toán nguồn nhân lực. Bà Tita Thy, Trưởng đại diện Hội đồng năng lượng thế giới tại Việt Nam nhận định, trong kỷ nguyên AI, năng lượng không còn đơn thuần là đầu vào của sản xuất mà đã trở thành hạ tầng quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi địa phương. Việt Nam đã có nhiều chính sách quan trọng về năng lượng, chuyển đổi số và AI, song thách thức lớn nhất hiện nay là triển khai đồng bộ, đặc biệt là chất lượng nguồn nhân lực.
Rất nhiều nhà đầu tư quốc tế muốn đầu tư vào Việt Nam nhưng gặp khó khăn trong việc tuyển dụng đội ngũ kỹ sư đáp ứng yêu cầu công nghệ mới. Theo bà Tita Thy để không bỏ lỡ cơ hội trong các lĩnh vực điện gió ngoài khơi, AI hay trung tâm dữ liệu, Việt Nam cần đẩy mạnh liên kết giữa doanh nghiệp với các trường đại học, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trong đào tạo, học bổng và trao đổi chuyên gia nhằm xây dựng đội ngũ nhân lực đạt chuẩn toàn cầu.
![]() |
| Các đại biểu tham dự diễn đàn. Ảnh: Tùng Lâm |
Khoa học phải bắt đầu từ nhu cầu của doanh nghiệp
Theo ông Yoshi Sakai đại diện Công ty NTT Advanced Techcology Nhật Bản: NTT Advanced Technology là doanh nghiệp thuộc Tập đoàn NTT, có nhiệm vụ đưa các công nghệ tiên tiến từ phòng thí nghiệm ra sản phẩm và thị trường. NTT-AT đã có quá trình hợp tác lâu dài với Việt Nam trong nâng cao giá trị và khả năng tiếp cận thị trường quốc tế của nông sản Việt Nam. Hiện nay, hợp tác đang mở rộng sang các lĩnh vực công nghệ cao như quy trình bán dẫn, chế tạo vi mô - nano, phân tích vật liệu và công nghệ truyền thông quang không dây FSO, có khả năng cung cấp kết nối tốc độ cao tại những khu vực khó triển khai cáp quang. NTT-AT cũng đang hợp tác đào tạo sinh viên Việt Nam và mong muốn nghiên cứu các cơ hội thương mại hóa vật liệu tiên tiến như nanocellulose, graphene và fullerene.
Theo đó, ông Sakai đưa ra đề xuất bốn hướng chính về quan hệ hợp tác với Việt Nam. Thứ nhất, xây dựng mô hình hợp tác hai chiều trong dịch vụ quy trình bán dẫn và phân tích vật liệu, trong đó năng lực của NTT-AT và đối tác Việt Nam có thể bổ sung cho nhau để phục vụ khách hàng tại cả Việt Nam và Nhật Bản.
Thứ hai, ứng dụng công nghệ truyền thông quang không dây FSO để cung cấp kết nối tốc độ cao cho các vùng nông thôn, miền núi, hải đảo hoặc những khu vực khó triển khai cáp quang.
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực thông qua chương trình tiếp nhận sinh viên Việt Nam thực tập tại NTT-AT.
Thứ tư, cùng nghiên cứu khả năng thương mại hóa các vật liệu tiên tiến như nanocellulose, graphene và fullerene.
![]() |
| Ông Yoshi Sakai Công ty NTT Advanced Techcology Saikai Nhật Bản. Ảnh Tùng Lâm |
Các chuyên gia cũng cho rằng khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng vẫn là rào cản lớn đối với đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.
Nhiều ý kiến đề xuất doanh nghiệp cần tham gia ngay từ khâu đặt hàng nghiên cứu để các công trình khoa học có khả năng thương mại hóa cao hơn. Đồng thời, địa phương cần chủ động xác định những bài toán phát triển cụ thể để viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp cùng tham gia giải quyết.
TS. Nguyễn Mạnh Cường nhấn mạnh hợp tác nghiên cứu phải bắt đầu từ nhu cầu thực tế của địa phương và doanh nghiệp thay vì xuất phát từ danh mục công nghệ sẵn có. Mỗi ý tưởng cần được triển khai thành mô hình thí điểm có mục tiêu, dữ liệu và chỉ số đánh giá rõ ràng để có thể nhân rộng.
Theo ông, để khoa học, công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển, cần hình thành hệ sinh thái hợp tác chặt chẽ giữa chính quyền, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và các đối tác quốc tế. Đây sẽ là nền tảng để Gia Lai nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư và phát triển bền vững trong giai đoạn tới.