Giới thiệu
Khoa học, công nghệ (KHCN) phát triển vô tận thúc đẩy sự thay đổi liên tục hệ thống tư liệu sản xuất, theo đó, tăng năng suất lao động và làm chuyển hóa toàn bộ xã hội. Đầu tư phát triển KHCN tạo nền tảng quan trọng đối với tất cả các lĩnh vực trong xã hội và là sự khởi đầu của các quá trình phát triển.
Việt Nam đề cao việc phát huy vai trò KHCN trong phát triển lực lượng sản xuất mới. Từ năm 1976, Việt Nam xác định cách mạng khoa học học - kỹ thuật là then chốt trong 3 cuộc cách mạng được tiến hành đồng thời nhằm tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1976). Đến năm 2025 - sau 50 năm xây dựng phát triển, Việt Nam coi đột phá phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Ban chấp hành Trung ương, 2025) cùng với đổi mới mô hình hợp tác công - tư để tăng cường khả năng huy động và sử dụng nguồn lực, đổi mới mô hình tăng trưởng, cải thiện cơ bản năng lực tự chủ chiến lược về khoa học, công nghệ.
Việc phân tích cụ thể vai trò khoa học, công nghệ đến phát triển lực lượng sản xuất và đổi mới mô hình hợp tác công - tư là cần thiết để phát huy triệt để thế mạnh khoa học, công nghệ phục vụ phát triển. Đây là phương thức được nhiều quốc gia áp dụng thành công và tạo đột phá phát triển.
![]() |
Thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất mới
Theo cách tiếp cận của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa duy vật lịch sử Chủ nghĩa Mác- Lênin, cùng với việc hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất trên cơ sở thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất liên tục, phương thức sản xuất xã hội được phát triển - chuyển từ trạng thái phát triển thấp sang trạng thái phát triển cao (Trường Đại học Kinh tế quốc dân, 1985). KHCN tạo hệ thống công cụ sản xuất, sản phẩm và dịch vụ mới, tái cơ cấu thực thể kinh tế và kinh doanh hiện có, đổi mới phương thức vận hành và thúc đẩy thành lập thực thể mới, theo đó, tạo nguồn cung và cầu mới. Đây là quá trình gia tăng dung lượng và thay đổi cơ cấu thị trường, cải thiện tiềm lực sản xuất, thúc đẩy cạnh tranh, huy động và phân bổ nguồn lực hiệu quả, kiến tạo lực lượng sản xuất mới. KHCN phát triển nhanh chóng nhờ gia tăng đáng kể đầu tư nghiên cứu và phát triển, tăng cường phát triển nguồn nhân lực trình độ cao, bảo hộ chặt chẽ quyền sở hữu trí tuệ, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, tăng cường kết nối doanh nghiệp với cơ sở nghiên cứu và phát triển, đổi mới sáng tạo. Hầu hết các quốc gia phát triển đều coi trọng, gia tăng đầu tư nghiên cứu và phát triển, theo đó, thúc đẩy quá trình tích lũy lực lượng sản xuất để tạo khả năng chuyển hóa cơ bản trạng thái phát triển.
Sản xuất truyền thống trước đây coi sản xuất chỉ dựa vào 2 yếu tố cơ bản là vốn và lao động, KHCN chưa được đưa vào lực lượng sản xuất. Các cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư làm thay đổi cơ bản năng suất lao động và chuyển hóa cơ bản trình độ phát triển của xã hội, KHCN đã trở thành yếu tố sản xuất trực tiếp và tạo ra lực lượng sản xuất mới. Nguồn lực KHCN và đổi mới sáng tạo được đưa vào lực lượng sản xuất mới và dần trở thành yếu tố sản xuất cốt lõi, quyết định quy mô, tốc độ và chất lượng của sự phát triển. Năng suất tổng hợp các yếu tố (TFP) trở thành yếu tố đo lường tác động khoa học, công nghệ đến quá trình phát triển.
Thực tế cho thấy, với việc đầu tư tối ưu vào khoa học, công nghệ, quy mô vốn hóa thị trường 11 tập đoàn có giá trị vốn hóa lớn nhất thế giới như NVIDIA, Apple, Alphabet, Microsoft,… có tổng quy mô khoảng 28 ngàn tỷ USD - tương đương với quy mô GDP của Mỹ năm 2025 (CampaniesMarketcap). Đây là con số phát triển chưa từng có trong lịch sử phát triển lực lượng sản xuất của nhân loại càng cho thấy vai trò ngày càng tăng của KHCN trong thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất thế giới. Theo đó, các quốc gia đều có chiến lược xây dựng các hệ sinh thái phát triển đồng bộ, thuận lợi và hỗ trợ cao nhất sự phát triển để các tập đoàn công nghệ huy động tối đa nguồn lực và phát triển ở mức cao nhất. Khoa học, công nghệ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất mới, theo quan điểm của tác giả, thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, tăng nguồn cung yếu tố đầu vào như máy móc, thiết bị công nghệ cao, nguyên vật liệu mới, năng lượng mới. Điều này góp phần tăng sản lượng toàn bộ nền kinh tế, đổi mới trình độ công nghệ quốc gia. Trong điều kiện các nguồn lực tự nhiên như đất đai, tài nguyên thiên nhiên bị giới hạn thậm chí bị khai thác quá mức, trở nên cạn kiệt, nguồn lực tri thức, sáng tạo, sản phẩm trí tuệ trở thành sự thay thế tốt hơn nguồn lực truyền thống. Theo đó, KHCN trở thành nguồn lực phát triển vô hạn và phù hợp với mục tiêu phát triển giai đoạn mới do tạo được nguồn lực phát triển mới.
Thứ hai, tăng nguồn cung nhân lực chất lượng cao, theo đó, tăng năng suất lao động, cải thiện giá trị gia tăng. Nhân lực là yếu tố quyết định mọi quá trình phát triển. Nguồn nhân lực trình độ cao nhất là ngành công nghệ cao thường có năng suất lao động rất cao, tạo giá trị gia tăng rất lớn theo đó tăng đóng góp vào GDP. Xu hướng đào tạo nhân lực chất lượng cao ngày càng được coi trọng để góp phần tăng quy mô GDP trong thời gian ngắn. Việc hình thành các cơ sở đào tạo hàng đầu thế giới với các ngành gắn với KHCN nghệ mũi nhọn góp phần tạo nguồn cung ứng nhân lực trình độ cao cho các quá trình sản xuất và sáng tạo giá trị.
Thứ ba, nâng cấp hạ tầng cơ sở nhất là hệ thống đường giao thông, sân bay, bến cảng, kho tàng, hạ tầng thông tin, năng lượng, dịch vụ. Quá trình thương mại hóa tiến bộ KHCN triệt để thúc đẩy nâng cấp cơ sở hạ tầng theo hướng hiện đại, thông minh như đường sắt siêu tốc, đường bộ cao tốc, đường hàng không hiện đại, cảng biển, kho tàng phát thải ròng thấp, tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng, phát triển các cơ sở năng lượng mới để thay thế năng lượng truyền thống, nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin và cải thiện chất lượng dịch vụ chất lượng cao như dịch vụ tài chính ngân hàng, logistics, gia công phần mềm, khoa học dữ liệu, tư vấn chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới mô hình kinh doanh.
Thứ tư, thúc đẩy phát triển thị trường vốn, lao động, KHCN, hàng hóa, dịch vụ, tăng tốc độ vận hành các giao dịch kinh tế. Thị trường vốn vận hành phục vụ phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo được phát triển. Theo đó, phát triển thị trường lao động để khai thác nguồn tài chính. Các cơ sở giáo dục cung ứng nguồn nhân lực khoa học, công nghệ trình độ cao có cơ hội lớn để cải tiến chương trình, cập nhật kiến thức, phát triển nội dung và công cụ giáo dục hiện đại và tăng cường phát triển quan hệ với thị trường lao động. Các tiến bộ KHCN, hàng hóa công nghệ và dịch vụ liên quan có điều kiện phát triển thông qua thương mại hóa. Kết quả là quy mô và tốc độ giao dịch tăng lên, làm tăng tốc độ vòng quay vốn, lao động và thời gian ứng dụng, phát triển nhanh tiến bộ KHCN góp phần hình thành trạng thái phát triển mới.
Thứ năm, tăng chi đầu tư nghiên cứu và phát triển, theo đó hình thành các trung tâm nghiên cứu KHCN, thung lũng khoa học, trung tâm đổi mới sáng tạo. Với việc hình thành làn sóng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, sự gia tăng doanh nghiệp khoa học - công nghệ, doanh nghiệp spin-off và xuất hiện các kỳ lân công nghệ thúc đẩy nguồn cung lớn sản phẩm khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Lực lượng và tiềm lực khoa học, công nghệ tăng lên làm tăng quy mô và chất lượng lực lượng sản xuất.
Thứ sáu, thúc đẩy cạnh tranh KHCN, tạo khả năng phát triển đột phá, hình thành mô hình kinh doanh mới dựa trên tiến bộ KHCN. Với việc hình thành hệ sinh thái KHCN đa dạng, liên thông và sản phẩm, dịch vụ dựa trên tiến bộ KHCN mới nhất tạo được vị thế độc quyền tự nhiên, tạo lợi nhuận độc quyền. Vì thế, các chủ thể tham gia thị trường này đều cố gắng giành vị thế độc quyền với tốc độ nhanh nhất để thống lĩnh thị trường, phát huy vị thế dẫn đầu để đặt ra tiêu chuẩn mới và nhanh chóng khai thác cơ hội mới. Điều này tạo áp lực cạnh tranh gay gắt giữa các chủ thể có tiềm lực khoa học, công nghệ lớn cũng như các chủ thể có tiềm năng lớn. Cạnh tranh vừa ngấm ngầm, vừa công khai, vừa ngắn hạn và dài hạn, cạnh tranh nội bộ ngành và giữa các ngành diễn ra gay gắt càng làm tăng thêm tính năng động của thị trường khoa học, công nghệ.
Thứ bảy, đẩy mạnh hoàn thiện thể chế phát triển KHCN như ban hành nhiều quy định pháp luật mới, bộ tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật - công nghệ - môi trường mới để mở đường phát triển các lĩnh vực KHCN mũi nhọn, công nghệ cao, tạo điều kiện để khoa học, công nghệ phát triển đến mức cao nhất, tăng tác động lan toả đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế nhất là những ngành, vùng, sản phẩm, dịch vụ sử dụng nhiều hàm lượng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây là cơ hội để cả lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ chất lượng cao phát triển nhanh, tăng quy mô và thay thế dần các ngành ít phát huy tiến bộ KHCN.
![]() |
| Đối thoại cấp cao về đối tác công - tư (PPP) do Bộ Tài chính, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) phối hợp tổ chức. Ảnh HD |
Phát huy mô hình hợp tác công - tư
Để phát triển mạnh KHCN nhằm gia tăng lực lượng sản xuất mới, một trong những giải pháp đặc biệt quan trọng là phát huy mô hình đối tác công - tư (Quốc hội, 2020) với phạm vi hợp tác được mở rộng từ 5 lĩnh vực đến hầu hết các lĩnh vực. Mô hình này làm giảm sự tách biệt về sở hữu giữa sở hữu công và sở hữu tư nhân vốn kéo dài nhiều thập kỷ gây ra định kiến khu vực tư nhân, cản trở huy động triệt để nguồn lực và phát huy mọi tiềm năng phục vụ phát triển khoa học, công nghệ (vốn không có ranh giới công - tư trong đáp ứng các mục tiêu phát triển). Đây là mô hình kết hợp được lợi thế của dịch vụ công, đầu tư công, cơ sở vật chất công và đội ngũ đông đảo công chức, viên chức, người lao động, trực tiếp là vai trò đồng hành và kiến tạo của nhà nước với thế mạnh đa dạng của khu vực tư nhân về vốn, công nghệ, năng lực nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo. Mô hình hợp tác này tạo được sản phẩm khoa học, công nghệ mới mang tính đột phá, góp phần bổ sung đáng kể vào lực lượng sản xuất mới. Đặc biệt, mô hình này góp phần chia sẻ rủi ro giữa các bên và thúc đẩy sự phát huy nguồn lực tư nhân với quyền tự chủ rât cao, sự linh hoạt rất lớn, có khả năng chi cho phát triển khoa học, công nghệ rất lớn mà không bị giới hạn bởi các quy định của chính sách. Nguồn chi này có thể được thu hồi khi sản phẩm KHCN và đổi mới sáng tạo được thương mại hóa hiệu quả, theo đó, tạo động lực gia tăng đầu tư tiếp theo cho KHCN.
• Đầu tư phát triển và triển khai thực hiện các chương trình, dự án nghiên cứu KHCN và đổi mới sáng tạo theo mô hình đối tác công - tư thuộc tất cả lĩnh vực thể chế, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, xã hội, môi trường, đột phá chiến lược. Cho phép tư nhân được chủ động đề xuất các nhiệm vụ khoa học, công nghệ bằng vốn ngân sách nhà nước hoặc nguồn vốn hợp tác công - tư, sản phẩm khoa học - công nghệ được phân chia theo tỷ lệ góp vốn sau khi thương mại hóa. Có cơ chế phân chia lợi nhuận và bảo hiểm rủi ro hợp lý giữa các bên (Quốc hội, 2025). Cho phép tư nhân được tham gia nghiên cứu và tiếp cận nguồn hỗ trợ từ Quỹ phát triển khoa học, công nghệ quốc gia (NAFOSTED). Cần tăng chi tiêu đầu tư phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo từ con số 0,5% GDP lên con số 1,5%-2% GDP theo mức đầu tư trung bình của các nước trên thế giới.
• Thúc đẩy quyết liệt công cuộc khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên cơ sở tạo điều kiện thành lập thành phố khoa học, thung lũng công nghệ, khu công nghệ cao, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cấp quốc gia, địa phương, vùng, cơ sở đại học và theo các lĩnh vực mũi nhọn của khoa học, công nghệ với chính sách khuyến khích tư nhân cùng hợp tác đầu tư phát triển. Khuyến khích tư nhân tự phát triển các mô hình nghiên cứu, phát triển KHCN trên cơ sở hình thành các quỹ KHCN như quỹ đầu tư thiên thần, quỹ đầu tư mạo hiểm.
• Gắn hợp tác công - tư với thu hút nguồn lực phát triển KHCN từ đối tác quốc tế cả đối tác tư nhân, tổ chức quốc tế, hoặc các quỹ đầu tư KHCN quốc gia, thúc đẩy trao đổi chuyên gia, học giả, học thuật, sinh viên, nghiên cứu sau tiến sỹ, tọa đàm, hội thảo, hội nghị khoa học. Coi trọng hợp tác để tạo ra các sản phẩm công bố trên các tạp chí quốc tế có uy tín cao.
• Đa dạng hóa hình thức kết nối thông qua các sàn giao dịch khoa học, công nghệ để gắn cung với cầu về khoa học công nghệ, khuyến khích sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế để tăng nguồn cung và đa dạng hóa nhu cầu.
• Phát triển các hình thức khen thưởng thành tích nghiên cứu và phát triển KHCN là kết quả của đối tác công - tư. Các hình thức khen thưởng có thể cả vật chất, tinh thần thỏa đáng như tôn vinh thành tích, trao tặng danh hiệu, giấy khen, bằng khen, tăng lương, đề bạt, tạo điều kiện tham gia các dự án nghiên cứu khác. Đồng thời, có cơ chế sàng lọc và phát triển các tài năng KHCN, đổi mới sáng tạo, nhân thành điển hình tiên tiến. Phát triển các nhóm nghiên cứu chuyên sâu, các nhóm có khả năng giải mã và làm chủ công nghệ nguồn, công nghệ gốc, công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược (Thủ tướng Chính phủ, 2025) để cải thiện cơ bản năng lực tự chủ chiến lược các công nghệ chiến lược.
Kết luận
Khoa học - công nghệ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển lực lượng sản xuất mới thông qua cải thiện các yếu tố đầu vào, đổi mới phương thức tổ chức quá trình sản xuất, thay đổi mô hình kinh doanh, tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức chống chịu và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đưa nền kinh tế vận hành trên nền tảng và trình độ phát triển cao hơn. Lực lượng sản xuất mới góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất và thúc đẩy sự tiến bộ, công bằng xã hội và hướng tới trình độ văn minh cao hơn. Xu hướng phát triển KHCN để kiến tạo lực lượng sản xuất mới được các quốc gia phát triển khai thác tối đa. Để thực hiện nhanh chóng và hiệu quả việc phát huy vai trò KHCN, cần chú trọng tăng cường hợp tác công - tư để vừa giảm thiểu lãng phí tiềm lực, vừa phát huy triệt để thế mạnh của khu vực công và khu vực tư. Điều này phù hợp với chủ trương coi kinh tế tư nhân là một thành phần kinh tế quan trọng nhất và bảo đảm KHCN được tiếp sức bởi động lực phát triển của kinh tế công và kinh tế tư nhân, thúc đẩy sự phát triển thị trường, phát huy mọi tiềm năng phát triển. Đây là cách thức để tăng tính thống nhất của cả nền kinh tế dựa trên thống nhất chặt chẽ về mục tiêu cùng phát huy, phát triển nguồn lực KHCN cả từ bên trong và bên ngoài trong kỷ nguyên vươn mình.
Danh mục tài liệu tham khảo
PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế - Đại học Kinh tế quốc dân
