Từ tăng kim ngạch đến nâng chất lượng tăng trưởng
Hội nghị “Thúc đẩy xuất nhập khẩu và chuỗi cung ứng TP.Hồ Chí Minh” diễn ra ngày 21/9/2026 với sự tham dự của đại diện các cơ quan Trung ương, sở, ngành, hiệp hội, cộng đồng doanh nghiệp xuất nhập khẩu và logistics.
Phát biểu khai mạc hội nghị, ông Nguyễn Lộc Hà - Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP.HCM nhấn mạnh vai trò của “việc thúc đẩy xuất nhập khẩu và phát triển chuỗi cung ứng trong giai đoạn mới, trong bối cảnh thương mại quốc tế và chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục có nhiều biến động.”
Từ định hướng đó, các nội dung được đưa ra tại hội nghị không chỉ tập trung vào kết quả xuất nhập khẩu trong những tháng đầu năm, mà mở rộng sang những vấn đề có tính nền tảng như năng lực sản xuất, logistics, quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật, chuyển đổi xanh, khả năng thích ứng của doanh nghiệp và năng lực tham gia chuỗi cung ứng khu vực, toàn cầu. Đây cũng là câu hỏi lớn đặt ra cho TP.Hồ Chí Minh: làm thế nào để duy trì tăng trưởng xuất khẩu nhưng đồng thời nâng giá trị tạo ra trong nước, giảm chi phí logistics và tăng khả năng đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế?
![]() |
| Toàn cảnh Hội nghị “Thúc đẩy xuất nhập khẩu và chuỗi cung ứng TP.Hồ Chí Minh” diễn ra ngày 21/9/2026 tại TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: Nart Thái |
Câu trả lời được hé mở qua các chuyên đề tại hội nghị, từ đánh giá tình hình xuất nhập khẩu của ông Lê Văn Danh - Phó Giám đốc Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh, chiến lược xuất nhập khẩu giai đoạn 2026 - 2030 của ông Nguyễn Ngọc Thạch, kế hoạch phát triển logistics của ông Huỳnh Tuấn Hoàng, đến định hướng tận dụng FTA và xúc tiến xuất khẩu. Những nội dung này, khi đặt cạnh nhau, cho thấy một vấn đề xuyên suốt: tăng trưởng xuất khẩu trong giai đoạn mới sẽ ngày càng phụ thuộc vào khả năng nâng cấp toàn bộ chuỗi cung ứng, thay vì chỉ mở rộng sản lượng.
Theo ông Lê Văn Danh - Phó Giám đốc Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh, chuyên đề về tình hình xuất nhập khẩu và chuỗi cung ứng 8 tháng đầu năm 2026 tập trung vào kết quả sản xuất, thương mại, xuất nhập khẩu và những nhiệm vụ cần triển khai trong những tháng cuối năm nhằm duy trì đà tăng trưởng, mở rộng thị trường, nâng cao năng lực sản xuất và hỗ trợ doanh nghiệp.
Số liệu trong chuyên đề cho thấy 8 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu của Thành phố đạt 65,83 tỷ USD, tăng 7,82% so với cùng kỳ; nhập khẩu đạt 72,69 tỷ USD, tăng 11,86%. Các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực tiếp tục là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; máy móc, thiết bị, phụ tùng; dệt may; gỗ và sản phẩm gỗ.
Những con số này cho thấy quy mô thương mại vẫn đang được mở rộng, nhưng đồng thời cũng đặt ra vấn đề về chất lượng tăng trưởng.
Giá trị gia tăng nội địa là bài toán trung tâm
Đánh giá giai đoạn 2020 - 2025 cho thấy tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh qua các cửa khẩu cả nước tăng từ 155 tỷ USD lên 192,5 tỷ USD. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu đạt 92,68 tỷ USD; công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 76,7% cơ cấu xuất khẩu. Hoa Kỳ, Trung Quốc và EU tiếp tục là những thị trường quan trọng.
Tuy nhiên, báo cáo của Sở Công Thương cũng chỉ ra ba hạn chế cốt lõi: giá trị gia tăng nội địa còn thấp, chi phí logistics cao và các rào cản kỹ thuật thế hệ mới ngày càng gia tăng. Đáng chú ý, khối doanh nghiệp FDI chiếm hơn 60% kim ngạch xuất khẩu, trong khi chi phí logistics được đánh giá ở mức 16-20% giá thành sản phẩm. Các tiêu chuẩn xanh như CBAM, ESG, cùng những yêu cầu về lao động, xuất xứ và kiểm soát chuỗi cung ứng tiếp tục tạo áp lực lên doanh nghiệp.
Như vậy, câu chuyện tăng trưởng xuất khẩu của Thành phố không chỉ nằm ở việc tìm thêm thị trường. Nếu phần giá trị tạo ra trong nước không tăng tương ứng, kim ngạch tăng nhưng khả năng lan tỏa sang khu vực doanh nghiệp nội địa vẫn bị giới hạn.
Đây chính là lý do chiến lược xuất nhập khẩu giai đoạn 2026 - 2030 đặt trọng tâm vào phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, nâng tỷ lệ nội địa hóa và tăng hàm lượng công nghệ.
Theo ông Nguyễn Ngọc Thạch - Phó Trưởng phòng Kinh tế Quốc tế, Sở Công Thương TP.Hồ Chí Minh trình bày “thành phố đặt mục tiêu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân 10 - 11%/năm trong giai đoạn 2026-2030; công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm trên 90% xuất khẩu vào năm 2030; hàng xuất khẩu có hàm lượng công nghệ trung bình và cao đạt khoảng 70%; tỷ trọng xuất khẩu sang các thị trường FTA trên 75%.”
Những mục tiêu này cho thấy hướng đi đang được đặt ra không đơn thuần là “xuất khẩu nhiều hơn”, mà là xuất khẩu những sản phẩm có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn. Để đạt được điều đó, kế hoạch xác định nhiệm vụ nâng tỷ lệ nội địa hóa, thu hút đầu tư vào các lĩnh vực như bán dẫn, điện tử, năng lượng tái tạo; hỗ trợ nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp nội địa; đồng thời kết nối doanh nghiệp nhỏ và vừa với doanh nghiệp FDI và các tập đoàn đa quốc gia.
Một điểm đáng chú ý là yêu cầu đối với doanh nghiệp trong nước không dừng ở việc có sản phẩm. Doanh nghiệp phải đáp ứng đồng thời các tiêu chí về chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật, năng lực giao hàng và quản trị chuỗi cung ứng. Đây là nơi tự động hóa bắt đầu có vai trò rõ hơn trong chiến lược xuất khẩu.
Trong mô hình sản xuất truyền thống, đầu tư tự động hóa thường được nhìn từ bài toán năng suất: giảm thao tác thủ công, tăng sản lượng, ổn định chất lượng hoặc giảm chi phí. Nhưng khi doanh nghiệp muốn trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn đa quốc gia, yêu cầu đã thay đổi.
Khách hàng quốc tế không chỉ hỏi doanh nghiệp có thể sản xuất bao nhiêu. Họ cần biết chất lượng có ổn định không, tỷ lệ lỗi bao nhiêu, thời gian giao hàng thế nào, nguồn nguyên liệu từ đâu, quy trình có thể truy xuất không và năng lực sản xuất có thể mở rộng đến mức nào. Khi đó, tự động hóa kết hợp với số hóa sản xuất trở thành một phần của năng lực chứng minh.
![]() |
| Đại diện Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh và Hiệp hội Logistics và Cảng biển TP. Hồ Chí Minh ký kết thỏa thuận hợp tác tại hội nghị. Ảnh: Nart Thái |
Một hệ thống quản lý sản xuất kết nối với máy móc có thể tạo dữ liệu về sản lượng, chất lượng, thời gian dừng máy, tiêu hao năng lượng và tình trạng thiết bị. Hệ thống truy xuất nguồn gốc có thể liên kết nguyên vật liệu với từng lô sản phẩm. Những dữ liệu này không chỉ phục vụ quản trị nội bộ mà còn có thể trở thành cơ sở để doanh nghiệp chứng minh năng lực với đối tác.
Vì vậy, yêu cầu nâng hàm lượng công nghệ trong hàng xuất khẩu cần được hiểu rộng hơn việc mua máy móc hiện đại. Vấn đề nằm ở khả năng tích hợp máy móc, dữ liệu và quy trình quản trị thành một năng lực sản xuất có thể đo lường và kiểm soát. Đây cũng là lý do chiến lược xuất nhập khẩu của Thành phố gắn phát triển sản xuất với chuyển đổi số, đổi mới công nghệ và phát triển công nghiệp hỗ trợ. Kế hoạch đồng thời định hướng hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới máy móc, thiết bị, công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Logistics phải chuyển từ “chi phí” thành năng lực cạnh tranh
Nếu sản xuất quyết định giá trị của hàng hóa, logistics lại quyết định một phần quan trọng trong khả năng cạnh tranh của hàng hóa đó trên thị trường quốc tế.
Đây là nội dung được ông Huỳnh Tuấn Hoàng - Phó Trưởng phòng Kinh tế Quốc tế, Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh trình bày tại hội nghị thông qua chuyên đề về phát triển dịch vụ logistics giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050.
Ông Huỳnh Tuấn Hoàng cho biết “đường bộ hiện chiếm 88,7% khối lượng hàng hóa vận chuyển, trong khi đường sắt chỉ chiếm 0,04% vận chuyển và 0,2% luân chuyển. Đường thủy có tỷ trọng luân chuyển lớn nhưng vẫn chưa khai thác hết lợi thế. Cơ cấu này tạo áp lực lên hệ thống đường bộ và kéo theo những điểm nghẽn tại các khu vực kết nối cảng, khu công nghiệp và trung tâm logistics.”
Trong khi đó, hệ thống cảng biển của Thành phố có quy mô lớn. Năm 2025, tổng sản lượng thông qua hệ thống đạt khoảng 13,9 triệu TEU; Cát Lái và Cái Mép - Thị Vải tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong mạng lưới container của khu vực. Tuy nhiên, kết nối giữa cảng biển, đường bộ, đường thủy, đường sắt, sân bay và các trung tâm logistics vẫn chưa đồng bộ.
![]() |
| Ông Huỳnh Tuấn Hoàng - Phó Trưởng phòng Kinh tế Quốc tế, Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh trình bày tại hội nghị. Ảnh: Nart Thái |
Vấn đề ở đây không đơn thuần là thiếu hạ tầng. Một hệ thống logistics hiện đại phải có khả năng điều phối dòng hàng hóa giữa nhiều phương thức vận tải. Khi hàng hóa chuyển từ nhà máy đến kho, từ kho ra cảng, từ cảng đi quốc tế, mỗi điểm chuyển tiếp đều tạo ra dữ liệu và chi phí. Nếu dữ liệu không được kết nối, doanh nghiệp khó xác định chính xác điểm nghẽn nằm ở đâu. Nếu phương thức vận tải không được tối ưu, chi phí logistics tiếp tục ăn mòn lợi thế về giá của sản phẩm.
Do đó, kế hoạch logistics của Thành phố đặt mục tiêu phát triển hạ tầng đa phương thức, tăng liên kết vùng, thúc đẩy chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Giai đoạn 2025-2035, Thành phố đặt mục tiêu tăng trưởng doanh thu logistics bình quân 13-16%/năm, đưa tỷ trọng giá trị gia tăng logistics lên 8-10% và giảm chi phí logistics xuống 11-14%. Đồng thời, tỷ lệ doanh nghiệp ứng dụng chuyển đổi số được định hướng đạt 80-100%.
Đáng chú ý, các giải pháp còn bao gồm phát triển logistics đô thị thông minh, kho thông minh, logistics lạnh, cơ sở dữ liệu dùng chung và các ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo. Như vậy, tự động hóa logistics không còn là một lựa chọn riêng của doanh nghiệp kho vận. Nó đang trở thành một thành phần trong năng lực cạnh tranh của cả chuỗi xuất khẩu.
FTA: ưu đãi thuế đi cùng yêu cầu chứng minh
Một mắt xích khác của chuỗi xuất khẩu là khả năng tận dụng các hiệp định thương mại tự do. Ông Ngô Chung Khanh - Phó Vụ trưởng, Vụ Phát triển Thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên, Bộ Công Thương trình bày chuyên đề về cập nhật chính sách, cam kết FTA và định hướng phát triển hệ sinh thái tận dụng FTA cho doanh nghiệp TP.Hồ Chí Minh. Nội dung chuyên đề nhấn mạnh một thay đổi quan trọng của thương mại quốc tế: thuế quan giảm nhưng yêu cầu về xuất xứ, chuỗi cung ứng và tuân thủ gia tăng.
Điều này khiến FTA không còn là câu chuyện riêng của bộ phận xuất nhập khẩu. Muốn hưởng ưu đãi thuế quan, doanh nghiệp phải chứng minh xuất xứ. Muốn tiếp cận các hệ thống phân phối lớn, doanh nghiệp phải đáp ứng tiêu chuẩn. Muốn duy trì thị trường, doanh nghiệp ngày càng phải chứng minh được năng lực kiểm soát chất lượng, nguyên liệu, quy trình sản xuất và các yêu cầu môi trường.
![]() |
| Ông Ngô Chung Khanh - Phó Vụ trưởng, Vụ Phát triển Thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên, Bộ Công Thương trình bày chuyên đề tại hội nghị. Ảnh: Nart Thái |
Do đó, dữ liệu sản xuất ngày càng trở thành một phần của năng lực thương mại. Một doanh nghiệp đã số hóa dữ liệu nguyên liệu, sản xuất và chất lượng sẽ có nền tảng thuận lợi hơn để truy xuất và cung cấp hồ sơ. Ngược lại, dữ liệu rời rạc và phụ thuộc vào quy trình thủ công có thể khiến thời gian đáp ứng yêu cầu của khách hàng tăng lên. Đây chính là điểm giao giữa FTA và chuyển đổi số.
Nếu sản xuất tạo ra hàng hóa và logistics đưa hàng hóa đến thị trường, xúc tiến thương mại là cầu nối với nhà mua hàng.
Ông Trần Phú Lữ - Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP.Hồ Chí Minh (ITPC) trình bày chuyên đề “Xúc tiến xuất khẩu hỗ trợ tăng trưởng hai con số”, trong đó nhấn mạnh vai trò của xúc tiến thương mại, kết nối giao thương và mở rộng mạng lưới đối tác trong việc tạo đầu ra cho doanh nghiệp.
Theo số liệu ITPC, năm 2025 Trung tâm tổ chức 81 hoạt động xúc tiến thương mại, trong đó 40 hoạt động xúc tiến xuất khẩu. Trong 9 tháng đầu năm 2026, có 75 hoạt động xúc tiến thương mại, trong đó 21 hoạt động xúc tiến xuất khẩu.
“Các chương trình cũng cho thấy xu hướng chuyển từ quảng bá sang kết nối giao dịch. Chẳng hạn, hoạt động phối hợp với SACA và HAMEE có 96 doanh nghiệp tham gia, ghi nhận hơn 500 yêu cầu báo giá, 35 thỏa thuận hợp tác và 30 hợp đồng được ký kết, với tổng giá trị khoảng 1,71 triệu USD. Đáng chú ý với lĩnh vực cơ khí, tự động hóa và công nghiệp hỗ trợ, tại FABTECH 2025 ở Hoa Kỳ, chương trình ghi nhận hơn 250 yêu cầu báo giá và 24 hợp đồng được ký kết với tổng giá trị khoảng 822.000 USD.” – ông Trần Phú Lữ trình bày chi tiết.
Những kết quả này cho thấy xúc tiến xuất khẩu đang ngày càng gắn với năng lực cung ứng thực tế. Một nhà mua hàng quốc tế không chỉ quan tâm catalogue. Họ cần bản vẽ kỹ thuật, mẫu sản phẩm, năng lực sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng, thời gian giao hàng và khả năng đáp ứng đơn hàng.
Vì vậy, sau một cuộc gặp B2B, câu hỏi thực sự mới bắt đầu: doanh nghiệp có thể báo giá nhanh không? Có thể cung cấp mẫu không? Có đủ công suất không? Có kiểm soát được chất lượng không? Và có thể giao hàng đúng thời hạn không?
Từ “xuất khẩu nhiều” đến “kiểm soát tốt hơn chuỗi giá trị”
Kế hoạch hành động xuất nhập khẩu giai đoạn 2026 - 2030 của TP.Hồ Chí Minh đặt ra mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu bình quân 10 - 11%/năm, đồng thời nâng tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo lên trên 90%, tăng hàm lượng công nghệ và mở rộng tỷ trọng xuất khẩu sang các thị trường FTA.
Song song, kế hoạch logistics hướng đến tăng trưởng 13 - 16%/năm, giảm chi phí logistics và nâng tỷ lệ doanh nghiệp ứng dụng chuyển đổi số. Các mục tiêu này cho thấy Thành phố đang tiếp cận xuất nhập khẩu theo hướng hệ sinh thái.
| - Doanh nghiệp: điều đó đồng nghĩa với việc đầu tư công nghệ không nên chỉ được cân nhắc dựa trên bài toán tăng năng suất của một công đoạn. Giá trị của tự động hóa cần được đánh giá trong toàn bộ chuỗi: nâng chất lượng, tạo dữ liệu, truy xuất nguồn gốc, ổn định giao hàng, giảm tiêu hao và tăng khả năng đáp ứng khách hàng quốc tế. - Logistics: kho thông minh, tối ưu vận tải và dữ liệu kết nối có thể giúp giảm những chi phí không tạo ra giá trị. - Xúc tiến thương mại: việc kết nối nhà mua hàng sẽ hiệu quả hơn khi đi cùng thông tin về năng lực sản xuất thực tế. - Chính sách: hỗ trợ doanh nghiệp sẽ có tác động lớn hơn nếu kết nối được các nhu cầu về công nghệ, tài chính, tiêu chuẩn, logistics, FTA và thị trường. |
Như vậy, thách thức của TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn tới không chỉ là làm thế nào để xuất khẩu nhiều hơn, mà còn là làm thế nào để kiểm soát được nhiều hơn những giá trị nằm bên trong một đơn hàng xuất khẩu. Đó là giá trị tạo ra tại nhà máy, dữ liệu được hình thành trong quá trình sản xuất, chi phí được tiết giảm trong logistics, khả năng chứng minh xuất xứ và chất lượng, cũng như năng lực duy trì quan hệ với nhà mua hàng.
Khi những yếu tố này được kết nối, xuất khẩu sẽ không còn là khâu cuối của chuỗi sản xuất. Nó trở thành động lực thúc đẩy doanh nghiệp nâng cấp công nghệ, logistics và năng lực quản trị. Và trong quá trình đó, tự động hóa không chỉ giúp doanh nghiệp sản xuất nhanh hơn, mà đang dần trở thành một phần của năng lực cạnh tranh xuất khẩu.