Từ nền tảng 40 năm Đổi mới, hàng loạt quyết sách chiến lược đang mở đường để chuyển các nguồn lực thành năng lực sản xuất và kiến tạo một nền kinh tế tự chủ, hiện đại.
![]() |
| Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định đến năm 2030 nước ta hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới trên các lĩnh vực. Ảnh: P. Anh |
Từ độc lập dân tộc đến nền tảng phát triển mới
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Sau gần một thế kỷ chịu ách đô hộ của thực dân, nhân dân Việt Nam giành lại quyền làm chủ đất nước và quyền quyết định vận mệnh của mình.
Sự kiện lịch sử này là kết quả của sức mạnh đoàn kết dân tộc, sự hy sinh của nhiều thế hệ và đường lối cách mạng đúng đắn dưới sự lãnh đạo của Đảng. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930 đã tạo bước ngoặt về đường lối và lực lượng lãnh đạo cách mạng, từng bước tập hợp sức mạnh toàn dân, chuẩn bị điều kiện để nắm bắt thời cơ lịch sử tháng Tám năm 1945.
Sau Cách mạng Tháng Tám, nền độc lập non trẻ phải đối mặt với hàng loạt thách thức: nạn đói, nạn dốt, khó khăn tài chính, các lực lượng ngoại bang và nguy cơ thực dân Pháp quay trở lại.
Bằng đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, dân tộc Việt Nam đã vượt qua 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt. Khát vọng độc lập gắn với khát vọng thống nhất tiếp tục trở thành động lực đưa dân tộc vượt qua một cuộc đấu tranh trường kỳ. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, khép lại ba thập niên chiến tranh liên tục và mở ra thời kỳ cả nước cùng xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
40 năm Đổi mới: Từ thay đổi tư duy đến nâng cấp năng lực sản xuất
Sau thống nhất, Việt Nam bắt đầu quá trình tái thiết trong điều kiện điểm xuất phát thấp, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, hậu quả chiến tranh nặng nề và nền kinh tế gặp nhiều khó khăn. Cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp bộc lộ những hạn chế, khiến sản xuất trì trệ, lạm phát cao và đời sống người dân còn nhiều gian khó.
Đại hội VI của Đảng năm 1986 mở ra công cuộc Đổi mới. Đây trước hết là một cuộc đổi mới về tư duy, giải phóng nguồn lực xã hội, chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế và mở rộng cánh cửa hội nhập với thế giới.
Sau 40 năm, những thay đổi về quy mô nền kinh tế cho thấy hiệu quả của quá trình chuyển đổi này.
Năm 2025, quy mô GDP Việt Nam đạt 514 tỷ USD, tăng 38 tỷ USD so với năm 2024. GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, năng suất lao động theo giá so sánh tăng 6,83%.
Trong 7 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 11,4%, cao nhất từ năm 2019 đến nay. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 659,58 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 319,53 tỷ USD, tăng 21,7%.
Những con số này phản ánh một quá trình chuyển đổi sâu rộng từ nền kinh tế có điểm xuất phát thấp trở thành một mắt xích ngày càng quan trọng trong mạng lưới sản xuất và thương mại toàn cầu.
Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia; có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với tất cả nước lớn và toàn bộ 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; là thành viên tích cực của ASEAN và hơn 70 tổ chức khu vực và quốc tế; có quan hệ với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ và tham gia 17 Hiệp định thương mại tự do đã có hiệu lực. Tuy nhiên, hội nhập sâu cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực nội tại.
Một nhà máy hiện đại đặt tại Việt Nam có thể tạo ra sản lượng, việc làm và kim ngạch xuất khẩu, nhưng giá trị mà nền kinh tế giữ lại phụ thuộc ngày càng lớn vào tỷ lệ nội địa hóa, năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D), chất lượng nhân lực, năng lực tiếp nhận và làm chủ công nghệ cũng như khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước. Đây chính là điểm chuyển quan trọng từ thu hút nguồn lực sang nâng cấp năng lực.
Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng chỉ rõ những hạn chế như tỷ lệ dự án thâm dụng lao động, tài nguyên, đất đai, năng lượng, gia công, lắp ráp còn cao; tỷ lệ nội địa hóa và giá trị tăng thêm hình thành ở Việt Nam còn thấp; liên kết với khu vực doanh nghiệp trong nước chưa cao và chuyển giao công nghệ còn hạn chế.
Giai đoạn 2026-2030, Việt Nam đặt mục tiêu thu hút khoảng 200-300 tỷ USD vốn đăng ký và 150-200 tỷ USD vốn thực hiện. Tuy nhiên, mục tiêu quan trọng hơn là nâng chất lượng dòng vốn, công nghệ, năng lực R&D và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Tự chủ vì thế không đồng nghĩa với đóng cửa. Một nền kinh tế hơn 100 triệu dân vẫn cần vốn quốc tế, công nghệ quốc tế, thị trường toàn cầu và sự tham gia của các tập đoàn đa quốc gia. Vấn đề nằm ở khả năng biến những nguồn lực bên ngoài thành năng lực bên trong.
![]() |
| Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9. Ảnh: Lâm Hiển |
Hạ tầng, năng lượng và công nghệ trở thành nền tảng của tăng trưởng
Trong giai đoạn phát triển mới, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào những hệ thống hạ tầng có tính nền tảng như năng lượng, giao thông, dữ liệu, logistics và công nghệ.
Hàng loạt nghị quyết chiến lược được Trung ương và Bộ Chính trị ban hành trong gần 2 năm qua đang hình thành cấu trúc mới cho mô hình phát triển.
Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt yêu cầu làm chủ công nghệ ở vị trí có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh quốc gia.
Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới mở rộng không gian phát triển; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật tập trung tháo gỡ điểm nghẽn thể chế; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân mở thêm dư địa để doanh nghiệp Việt Nam nâng quy mô, công nghệ và năng lực cạnh tranh. Cùng với đó, năng lượng trở thành một biến số trực tiếp của tăng trưởng.
Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia là nền tảng, tiền đề quan trọng cho phát triển đất nước.
Trong 8 tháng năm 2026, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu ước tăng 9,4%. Khi mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số được đặt ra, năng lực cung ứng điện cần đi trước một bước để đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất, phát triển công nghiệp công nghệ cao và các hệ thống hạ tầng số.
Ở góc độ công nghệ, đây cũng là bài toán của tự động hóa. Khi sản xuất chuyển từ mở rộng quy mô theo chiều rộng sang nâng cao năng suất và giá trị gia tăng, doanh nghiệp cần dựa nhiều hơn vào tự động hóa, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, robot, hệ thống điều khiển và các nền tảng quản trị sản xuất thông minh.
Nói cách khác, công nghệ không còn chỉ là công cụ hỗ trợ sản xuất mà đang trở thành một cấu phần của năng lực cạnh tranh quốc gia.
![]() |
| Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9. Ảnh: Lâm Hiển |
Chuyển các nghị quyết thành năng lực thực thi
Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo hướng vào nguồn lực con người. Nghị quyết số 72-NQ/TW về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tiếp tục bổ sung những cấu phần căn bản cho chất lượng nguồn nhân lực.
Đầu năm 2026, Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước xác định rõ hơn vai trò của nguồn lực Nhà nước đối với ổn định vĩ mô, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng và an ninh. Chỉ 1 ngày sau, Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam đặt văn hóa vào vị trí nguồn lực nội sinh quan trọng.
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam tiếp tục xác lập cấu trúc tổng thể, hướng mô hình phát triển dựa nhiều hơn vào tri thức, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, năng suất và giá trị gia tăng, hướng tới năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Sau đó, Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; Nghị quyết số 23-NQ/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài nhìn nhận cộng đồng hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài như một nguồn lực của đất nước; Nghị quyết số 26-NQ/TW đặt mục tiêu phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.
Mới nhất, ngày 28/8/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới. Nghị quyết yêu cầu chuyển mạnh tư duy phát triển từ dựa vào nguồn lực sẵn có sang kiến tạo, dẫn dắt, khơi thông các nguồn lực xã hội.
Không gian phát triển được định hướng tổ chức theo chức năng, lợi thế, chuỗi giá trị, hành lang kinh tế, vùng động lực và các cực tăng trưởng; đồng thời gắn hạ tầng giao thông, năng lượng, dữ liệu, logistics với năng lực sản xuất trong nước.
Đây là cách tiếp cận có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính. Hạ tầng và nguồn lực không thể tiếp tục được tổ chức theo tư duy chia nhỏ mà cần kết nối thành những hệ thống có khả năng tạo ra giá trị lớn hơn. Từ khát vọng 2045 đến một nền kinh tế vận hành bằng công nghệ
Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã tích lũy nền tảng đáng kể về quy mô kinh tế, hạ tầng, quan hệ quốc tế, nguồn nhân lực và vị thế quốc gia. Nhưng bước chuyển từ nước thu nhập trung bình lên nước phát triển đòi hỏi một mô hình tăng trưởng khác.
Nếu giai đoạn đầu của công nghiệp hóa có thể dựa nhiều vào lao động trẻ, chi phí sản xuất, tài nguyên, đất đai và dòng vốn đầu tư bên ngoài, thì giai đoạn tiếp theo phải dựa nhiều hơn vào năng suất, đổi mới sáng tạo, năng lực quản trị, chất lượng nhân lực và sức mạnh của doanh nghiệp trong nước.
Tại phiên bế mạc Đại hội XIV của Đảng ngày 23/1/2026, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ "nhận thức đúng" thành "tổ chức triển khai có hiệu quả", từ "quyết tâm cao" thành "kết quả rõ"; đồng thời kết hợp chỉ đạo, điều hành với kiểm tra, giám sát và chịu trách nhiệm.
Đây cũng chính là bài toán của quá trình chuyển đổi số và tự động hóa: giá trị của một chiến lược không nằm ở số lượng hệ thống được triển khai mà ở năng lực biến công nghệ thành năng suất, dữ liệu thành quyết định, tự động hóa thành hiệu quả và đổi mới sáng tạo thành giá trị kinh tế thực tế.
Nghị quyết số 24-NQ/TW về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới vì vậy có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng chuyển hóa các định hướng chiến lược thành kết quả.
Nghị quyết số 25-NQ/TW về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới cũng đặt ra yêu cầu công tác tư tưởng phải "đi trước mở đường, đi cùng trong tổ chức thực hiện và đi sau tổng kết thực tiễn, củng cố niềm tin".
Năm 2030, đất nước kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng; năm 2045, Việt Nam kỷ niệm 100 năm thành lập nước. Đây không chỉ là những dấu mốc lịch sử mà còn là những mốc kiểm chứng năng lực phát triển quốc gia.
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đồng thời hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Khoảng thời gian chưa đầy 2 thập niên không dài đối với một quốc gia hơn 100 triệu dân. Những quyết sách về thể chế, mô hình phát triển, khoa học công nghệ, năng lượng, hạ tầng, giáo dục, kinh tế và con người trong những năm tới sẽ quyết định năng lực cạnh tranh và mức độ tự chủ của Việt Nam trong nhiều thập niên tiếp theo.
Từ nền độc lập được xác lập ngày 2/9/1945, Việt Nam đã đi qua hành trình bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước và 40 năm Đổi mới. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là giữ vững độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia mà còn phải xây dựng năng lực nội sinh đủ mạnh.
Trong nền kinh tế toàn cầu ngày càng dựa trên công nghệ, dữ liệu và năng suất, năng lực tự chủ sẽ được tạo dựng từ những nhà máy thông minh hơn, hệ thống năng lượng hiệu quả hơn, hạ tầng số mạnh hơn, doanh nghiệp có năng lực công nghệ cao hơn và nguồn nhân lực có khả năng làm chủ những công nghệ mới.
Đó cũng là cách biến khát vọng phát triển thành năng lực thực tế, đưa những quyết sách lớn từ văn bản vào đời sống và từng bước kiến tạo một Việt Nam phát triển, hiện đại, tự chủ và có sức cạnh tranh cao.