Không chỉ dừng ở việc thiết lập quan hệ hợp tác, chương trình cho thấy định hướng của CNS trong việc xây dựng một hệ sinh thái kết nối giữa doanh nghiệp, nhà trường và các đơn vị công nghệ, lấy nhu cầu thực tế của sản xuất và thị trường làm đầu bài cho nghiên cứu.
Sự kiện có sự tham dự của đại diện cơ quan quản lý, trường đại học, doanh nghiệp và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực công nghệ, bán dẫn. Trong đó có ông Trần Phi Long - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên CNS; ông Nguyễn Phương Đông - Tổng Giám đốc CNS; ông Phạm Huỳnh Quang Hiếu - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.Hồ Chí Minh; ông Nguyễn Tiến Hưng - Phó Giám đốc Trung tâm Quốc gia hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn thuộc Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ; PGS.TS. Đàm Sao Mai - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp TP.Hồ Chí Minh; ông Trương Gia Bảo - Chủ tịch Liên minh Phát triển Nguồn lực Công nghiệp Bán dẫn Việt Nam; ông Triệu Hiệp Lộc - Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Công nghệ CTW, cùng đại diện các cơ quan, trường đại học và doanh nghiệp.
Phát biểu khai mạc chương trình, ông Trần Phi Long - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên CNS nhấn mạnh, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn là lựa chọn mà đã trở thành yếu tố quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Với vai trò là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, giữ vị trí nòng cốt trong các ngành công nghiệp chủ lực của TP.HCM, CNS xác định việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và đổi mới phương thức quản trị là nhiệm vụ quan trọng, qua đó tạo nền tảng phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, dịch vụ.
Theo ông Trần Phi Long, CNS không thể đi một mình nếu muốn phát triển xa và bền vững. Vì vậy, các thỏa thuận hợp tác lần này được xem là bước khởi đầu để hình thành mô hình kết nối “ba nhà”: Nhà nước - Nhà trường - Nhà doanh nghiệp. Trong đó, trường đại học cung cấp tri thức, nghiên cứu và nguồn nhân lực; doanh nghiệp công nghệ hỗ trợ năng lực tích hợp, tự động hóa và phát triển chuỗi giá trị; còn cơ quan quản lý tạo hành lang pháp lý, chính sách và điều kiện để các sáng kiến được triển khai trong thực tế.
![]() |
| Ông Trần Phi Long - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên CNS phát biểu khai mạc chương trình. Ảnh: Nart Thái |
Đặc biệt, Chủ tịch HĐTV CNS khẳng định: “CNS cam kết tập trung nguồn lực cho các dự án nghiên cứu, chuyển giao và thương mại hóa công nghệ; tạo điều kiện để chuyên gia, giảng viên, nhà nghiên cứu tiếp cận thực địa sản xuất; đồng thời yêu cầu các đơn vị chuyên môn cụ thể hóa nội dung MOU thành kế hoạch triển khai theo từng quý, từng năm.”
Từ bài học cũ đến tư duy xây dựng hệ sinh thái
Một trong những nội dung đáng chú ý tại chương trình là tham luận của ThS. Vũ Ngọc Nam - Phó Tổng Giám đốc CNS, với chủ đề “Phát triển hệ sinh thái bán dẫn tại Thành phố Hồ Chí Minh: Kinh nghiệm thực tiễn, bài học và cơ chế thúc đẩy hợp tác Nhà trường - Doanh nghiệp - Nhà quản lý”.
Từ thực tiễn hơn 10 năm tham gia lĩnh vực này, CNS nhìn nhận những dự án công nghệ quy mô lớn không thể chỉ dựa vào hạ tầng, thiết bị hay cơ chế hành chính. Đối với bán dẫn, hệ sinh thái nhân lực, đội ngũ kỹ sư thiết kế, khả năng kết nối nghiên cứu với nhu cầu thị trường và con đường đưa sản phẩm đến thương mại hóa đều giữ vai trò quyết định.
Từ những bài học đó, hướng tiếp cận hiện nay của CNS không phải bắt đầu lại bằng một dự án sản xuất quy mô lớn, mà chuyển sang vai trò hình thành và kết nối hệ sinh thái bán dẫn.
Mô hình được CNS đề xuất dựa trên sự tham gia của “3 nhà”. Trong đó, CNS đóng vai trò kiến tạo, kết nối nguồn vốn, môi trường R&D và đặt hàng các bài toán thực tế; các trường đại học đảm nhiệm đào tạo kỹ sư thiết kế, kiểm thử vi mạch, hình thành các nhóm nghiên cứu phù hợp với nhu cầu ứng dụng; doanh nghiệp công nghệ tham gia thiết kế, tối ưu kiến trúc chip và đưa sản phẩm nhanh hơn tới thị trường.
Cách tiếp cận này cũng cho thấy sự thay đổi trong quan niệm về R&D: nghiên cứu không phải điểm kết thúc, mà cần tiếp tục đi qua thử nghiệm, kiểm chứng, sản xuất và thương mại hóa.
Đưa “đầu bài” từ nhà máy vào trường đại học
Ông Vũ Ngọc Nam cho biết việc ký kết MOU là bước đi chiến lược trong giai đoạn CNS thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
“Hợp tác được kỳ vọng tạo ra ba thay đổi trực tiếp. Trước hết là giải quyết bài toán nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực bán dẫn, thiết kế vi mạch, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo. Thứ hai là tạo động lực tăng trưởng mới thông qua R&D, rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đến thử nghiệm thực tế, tập trung vào công nghệ xanh, công nghệ số và sản xuất thông minh. Thứ ba là chuẩn hóa, nâng cấp hạ tầng công nghệ số, tiến tới số hóa quy trình quản trị và vận hành sản xuất tại CNS và các đơn vị thành viên", ông Vũ Ngọc Nam cho biết.
Điểm đáng chú ý hơn nằm ở cách các chương trình hợp tác sẽ được triển khai. Thay vì để trường đại học nghiên cứu trước rồi tìm nơi ứng dụng sau, CNS dự kiến cung cấp các “đầu bài” thực tế từ nhà máy và dây chuyền sản xuất, đặt hàng trường đại học, viện nghiên cứu tìm giải pháp, đồng thời mở không gian thử nghiệm (sandbox) cho sản phẩm và công nghệ mới.
![]() |
| ThS. Vũ Ngọc Nam - Phó Tổng Giám đốc CNS, trình bày chủ đề “Phát triển hệ sinh thái bán dẫn tại Thành phố Hồ Chí Minh: Kinh nghiệm thực tiễn, bài học và cơ chế thúc đẩy hợp tác Nhà trường - Doanh nghiệp - Nhà quản lý”. Ảnh: Nart Thái |
Song song đó là mô hình đào tạo thực chiến thông qua thực tập chuyên sâu, học kỳ doanh nghiệp và các dự án chung. Sinh viên, nghiên cứu sinh có cơ hội tham gia trực tiếp vào dự án công nghệ của CNS, trong khi kỹ sư doanh nghiệp được tiếp cận và cập nhật tri thức mới từ trường đại học.
Cơ chế này hướng tới giải quyết một khoảng cách tồn tại lâu nay giữa đào tạo - nghiên cứu - nhu cầu doanh nghiệp, đặc biệt trong những ngành đòi hỏi nguồn nhân lực chuyên sâu như bán dẫn và thiết kế vi mạch.
| Hợp tác phải được đo bằng kết quả thực tế “Đối với CNS, hợp tác không dừng lại ở bản ký kết, mà phải đo lường bằng kết quả thực tế.” Theo ông Vũ Ngọc Nam - Phó Tổng Giám đốc CNS: “Tổng Công ty sẽ tập trung vào ba nhóm giải pháp: đặt hàng bài toán thực tế từ nhà máy và dây chuyền sản xuất; triển khai đào tạo thực chiến, đồng phát triển với nhà trường; ứng dụng và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu có tính ứng dụng cao.” |
Các công nghệ tối ưu hóa sản xuất, tiết kiệm năng lượng, vi mạch và tự động hóa sẽ được ưu tiên ứng dụng tại các nhà máy thành viên nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh.
Chọn chip bảo mật thay vì cạnh tranh bằng giá
Trong lĩnh vực bán dẫn, CNS cũng xác định một hướng sản phẩm cụ thể: chip bảo mật phần cứng (Hardware Security Engine) và tự chủ an ninh dữ liệu.
Thay vì cạnh tranh trực tiếp về giá với chip ngoại nhập vốn có lợi thế nhờ quy mô sản xuất lớn, CNS định hướng vào phân khúc bảo mật phần cứng, phục vụ các hạ tầng có yêu cầu cao về an toàn dữ liệu. Theo nội dung CNS trình bày tại sự kiện, sản phẩm có thể hướng đến các ứng dụng trong hạ tầng đô thị thông minh, như đồng hồ điện, nước thông minh, camera an ninh và hệ thống điều khiển giao thông. Yêu cầu đặt ra là hạn chế nguy cơ tồn tại “cửa sau” (backdoor) và tăng khả năng chống can thiệp dữ liệu.
Đáng chú ý, định hướng này không đặt chip như một sản phẩm độc lập mà gắn với hệ sinh thái hạ tầng số. Trong giai đoạn thử nghiệm, CNS dự kiến kết nối hạ tầng Data Center, Cloud và môi trường sandbox tích hợp phần mềm - phần cứng; đồng thời đưa sản phẩm qua khâu kiểm thử, thẩm định và chứng nhận an toàn thông tin.
Đích đến được CNS mô tả bằng một chuỗi giá trị khép kín: “Thiết kế Việt - Bảo mật Việt - Kiểm thử Việt - Phục vụ Hạ tầng Việt”. Để đưa định hướng trên thành sản phẩm, CNS đề xuất lộ trình thực thi trong ba giai đoạn từ năm 2026 đến 2030.
Giai đoạn 2026–2027 tập trung tạo dựng nền tảng, thiết lập hợp tác giữa CNS, nhà trường và các doanh nghiệp công nghệ; đầu tư phòng Lab R&D&T và triển khai chương trình đào tạo kỹ sư thiết kế vi mạch.
Giai đoạn 2027–2028 chuyển sang thử nghiệm chip bảo mật, trong đó đặt hàng thiết kế chip phục vụ bảo mật và đô thị thông minh; các đối tác thiết kế, kỹ sư trẻ cùng tham gia thực hiện, CNS quản lý quá trình tape-out và tiến tới thí điểm trên hạ tầng tại TP.Hồ Chí Minh.
Giai đoạn 2028–2030 hướng tới thương mại hóa bền vững, đưa sản phẩm chip ứng dụng vào các dự án công cộng tại TP.Hồ Chí Minh, nhân rộng mô hình đào tạo tại các trường đại học đối tác và từng bước hướng sản phẩm ra thị trường khu vực.
Các chỉ số CNS đặt ra cũng cho thấy yếu tố nhân lực được xem là một trong những nền tảng quan trọng: mục tiêu đào tạo hơn 200 kỹ sư thiết kế, kiểm thử vi mạch thông qua chương trình hợp tác với các trường; đồng thời hướng tới hình thành dòng vi mạch bảo mật “Make in Vietnam” được bảo hộ và thương mại hóa trong các dự án tại TP.Hồ Chí Minh.
R&D phải đi cùng thương mại hóa
Một nội dung khác đáng chú ý là mô hình R&D&T, trong đó chữ “T” được CNS gắn với Trade – thương mại hóa. Theo cách tiếp cận này, nghiên cứu phải hướng tới sản phẩm và sản phẩm phải có khả năng đi ra thị trường.
CNS và Công ty Cổ phần Công nghệ CTW dự kiến phát triển mô hình phòng Lab với quy mô phù hợp nhu cầu thiết kế và kiểm thử, thay vì đầu tư dàn trải. Với nhà trường, CNS đề xuất cơ chế chia sẻ lợi ích từ quá trình thương mại hóa, bao gồm bản quyền hoặc chia sẻ lợi nhuận trên sản phẩm, qua đó tạo nguồn tài chính để tiếp tục tái đầu tư cho đào tạo và nghiên cứu.
Đối với giảng viên và nhà khoa học, mô hình mở ra khả năng chuyển nghiên cứu thành sản phẩm ứng dụng và tiếp cận hạ tầng R&D. Sinh viên, kỹ sư trẻ có thể học theo dự án thực tế, tiếp xúc với kỹ sư doanh nghiệp, đồng thời có thêm cơ hội việc làm, học bổng và phát triển các ý tưởng khởi nghiệp vi mạch.
Đây cũng là nền tảng để CNS hiện thực hóa quan điểm được ông Vũ Ngọc Nam nhấn mạnh: doanh nghiệp không chỉ tiếp nhận kết quả nghiên cứu, mà phải tham gia từ khâu đặt bài toán, thử nghiệm, đồng phát triển đến thương mại hóa.
MOU là điểm khởi đầu
Tại sự kiện, CNS thực hiện các nội dung ký kết với Liên minh Phát triển Nguồn lực Công nghiệp Bán dẫn Việt Nam và Công ty Cổ phần Công nghệ CTW, hướng đến đào tạo nguồn nhân lực bán dẫn, triển khai 30 dự án thiết kế chip hướng đến tape-out, cùng các lĩnh vực chuyển đổi số, phần mềm, AI, IoT, năng lượng tái tạo và đổi mới sáng tạo.
![]() |
| Đại diện CNS ký kết với Liên minh Phát triển Nguồn lực Công nghiệp Bán dẫn Việt Nam và Công ty Cổ phần Công nghệ CTW. Ảnh: Nart Thái |
CNS cũng ký MOU với Trường Đại học Công nghiệp TP.Hồ Chí Minh và Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP.Hồ Chí Minh, tập trung vào nghiên cứu phát triển sản phẩm công nghiệp, công nghiệp công nghệ cao, đào tạo, việc làm cho sinh viên, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Bên cạnh đó, hợp tác với BrainMark Vietnam hướng tới các giải pháp chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả công việc.
Nhìn rộng hơn, giá trị của những thỏa thuận này sẽ không chỉ nằm ở số lượng biên bản được ký, mà ở khả năng hình thành những dự án cụ thể sau ký kết. Trong bối cảnh bán dẫn, AI, tự động hóa và chuyển đổi số đang trở thành những cấu phần quan trọng của năng lực sản xuất, mô hình liên kết doanh nghiệp - nhà trường - đơn vị công nghệ có thể tạo thêm một kênh đưa nghiên cứu đến gần hơn với nhu cầu thực tế.
Với CNS, lộ trình được đặt ra khá rõ: từ bài toán của doanh nghiệp đến nghiên cứu; từ nghiên cứu đến thử nghiệm; từ thử nghiệm đến sản phẩm và cuối cùng là thị trường. Nếu chuỗi liên kết này vận hành hiệu quả, các MOU ngày 28/8 sẽ không chỉ là cam kết hợp tác, mà có thể trở thành một bước khởi đầu cho việc hình thành năng lực công nghệ mới ngay trong hệ sinh thái công nghiệp của TP.Hồ Chí Minh.
Lê Cường - Đinh Hòa
Đường dẫn bài viết: https://tudonghoangaynay.vn/cns-thuc-day-he-sinh-thai-ban-dan-dua-nghien-cuu-tu-phong-lab-den-thi-truong-23321.htmlIn bài viết
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2024 https://tudonghoangaynay.vn/ All right reserved.