acecook

Công nghệ là một trong những yếu tố then chốt để bảo vệ, phát triển rừng bền vững

Nông nghiệp công nghệ cao
19/11/2024 04:04
Lâm nghiệp đã trở thành ngành kinh tế quan trọng với giá trị xuất khẩu đạt trên 13,2 tỷ USD, đóng góp trên 30% tổng giá trị xuất khẩu của toàn ngành nông nghiệp, đạt 5% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước.
aa
Công nghệ là một trong những yếu tố then chốt để bảo vệ, phát triển rừng bền vững
Dư địa diện tích đất để phát triển rừng trồng mới không còn nhiều, cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào bảo vệ phát triển rừng

Ngày 15/11, tại trường Đại học Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT), Cục Lâm nghiệp phối hợp với Trường Đại học Lâm nghiệp tổ chức Hội nghị Ứng dụng công nghệ cao trong quản lý, sản xuất lâm nghiệp bền vững.

Ông Trần Quang Bảo, Cục trưởng Cục Lâm nghiệp nhấn mạnh, hiện nay, dư địa diện tích đất để phát triển rừng trồng mới không còn nhiều, do vậy, để nâng cao năng suất, chất lượng gỗ rừng trồng thì việc ứng dụng công nghệ sinh học trong cải thiện chất lượng giống là giải pháp rất quan trọng.

"Hiện nay, năng suất rừng trồng bình quân cả nước mới đạt 15 – 18m3/ha/năm, con số này còn thấp, do vậy, cần chọn tạo các loài cây lập địa, ứng dụng công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng", ông Bảo nói.

Trong khi đó, ứng dụng chuyển đổi số, các phần mềm trong đo đạc, định vị sẽ có vị trí, vai trò quan trọng trong quản lý, bảo vệ, giám sát, cấp mã số vùng trồng cho các vùng rừng nguyên liệu.

Lâm nghiệp không chỉ phát triển kinh tế mà còn giữ vững an ninh, ổn định trật tự xã hội

Báo cáo của Cục Lâm nghiệp cho thấy, lâm nghiệp đã trở thành ngành kinh tế quan trọng với giá trị xuất khẩu đạt trên 13,2 tỷ USD, đóng góp trên 30% tổng giá trị xuất khẩu của toàn ngành nông nghiệp, đạt 5% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước (năm 2021 đạt 15,96 tỷ USD, năm 2022 đạt 17,09 tỷ USD, năm 2023 đạt 14,39 tỷ USD); tạo việc làm, nâng cao sinh kế cho người dân ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, góp phần giữ gìn an ninh quốc phòng, ổn định trật tự xã hội; ngoài ra, rừng còn có vai trò quan trọng trong phòng hộ bảo vệ vùng đầu nguồn, duy trì nguồn nước, bảo vệ vùng ven biển, bảo tồn đa dạng sinh học và cảnh quan thiên nhiên.

Thời gian qua, ngành lâm nghiệp đã chủ động, tích cực ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, trong đó có các giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin và thực hiện chuyển đổi số trong lâm nghiệp, đây là xu hướng tất yếu để đảm bảo ngành lâm nghiệp đáp ứng được các yêu cầu hiện đại hóa và phát triển bền vững.

Từ năm 2013, Tổng cục Lâm nghiệp đã xây dựng Hệ thống nền thông tin quản lý ngành lâm nghiệp - gọi tắt là Hệ thống FORMIS. Hệ thống này đóng vai trò là nền tảng (Platform) để tiếp nhận, tích hợp, kết nối các phần mềm/ứng dụng chuyên ngành, phục vụ cho việc cập nhật dữ liệu, hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu (CSDL) chuyên ngành lâm nghiệp.

Dữ liệu chuyên ngành lâm nghiệp hiện có đã được cài đặt, tích hợp vào Hệ thống FORMIS gồm: CSDL tài nguyên rừng (được chuẩn hóa, thiết lập CSDL từ kết quả Tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc và cập nhật số liệu công bố hiện trạng rừng năm 2017); Dữ liệu điều tra rừng quốc gia 5 chu kỳ: 1990-2010 (Viện Điều tra quy hoạch rừng thực hiện); CSDL về điều kiện lập địa thích hợp cho trồng rừng (Viện Sinh thái và môi trường rừng - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam); CSDL chi trả dịch vụ môi trường rừng; CSDL rừng ven biển; Thông tin mùa vụ trồng rừng; Thông tin các khu rừng đặc dụng.

Hiện nay, các phần mềm chính đang vận hành thường xuyên để cập nhật thông tin, dữ liệu phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành gồm: Phần mềm giám sát đánh giá chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững (Cục Lâm nghiệp, Cục Kiểm lâm và Chi cục Kiểm lâm/Sở NNPTNT các địa phương vận hành, cập nhật hàng tháng các chỉ tiêu thống kê lâm nghiệp và các nhiêm vụ thuộc Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững); Phần mềm theo dõi diễn biến rừng (Cục Kiểm lâm và Chi cục Kiểm lâm các địa phương vận hành, cập nhật thường xuyên về diễn biến rừng); Ứng dụng quản lý điều hành/báo cáo trực tuyến của Cục Lâm nghiệp.

Ngoài ra, các đơn vị trong lĩnh vực lâm nghiệp đã xây dựng và ứng dụng công nghệ 4.0 để tạo ra nhiều sản phẩm công nghệ có ứng dụng thực tế cao, góp phần quản lý hiệu quả nguồn tài nguyên rừng.

Cụ thể, trong lĩnh vực bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, hệ thống cảnh báo cháy rừng tự động; hệ thống phát hiện sớm cháy rừng; biển báo hiệu cấp dự báo cháy rừng tự động; bộ quan trắc mặt đất giám sát cháy rừng; hệ thống phát hiện sớm mất rừng.

Trong lĩnh vực chế biến và thương mại lâm sản, có hệ thống truy xuất nguồn gốc gỗ rừng trồng hợp pháp - ITWOOD do Trung tâm Kinh tế Lâm nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam xây dựng và đang thử nghiệm.

Trong xây dựng nền tảng để phát triển thông tin, dữ liệu dùng chung có hệ thống thông tin lâm nghiệp - Forestry 4.0 (Viện Sinh thái rừng và Môi trường - Trường Đại học Lâm nghiệp xây dựng, đang nghiên cứu kết nối với Hệ thống thông tin quản lý ngành lâm nghiệp - FORMIS).

Đẩy mạnh chuyển đổi số

Theo đánh giá của Cục Lâm nghiệp, đối với lĩnh vực chuyển đổi số trong lâm nghiệp, ngành đã sớm xây dựng được hệ thống nền tảng, làm cơ sở thiết lập hệ thống thông tin và CSDL chuyên ngành. Đã thiết lập được bộ dữ liệu cơ bản ngành lâm nghiệp. Nhiều ứng dụng công nghệ số đã được phát triển và vận hành, giúp cho công tác quản lý, điều hành và ra quyết định kịp thời và chính xác, giúp công tác giám sát tài nguyên rừng hiệu quả hơn, từ đó, giảm thiểu nguy cơ suy thoái rừng, và cải thiện khả năng bảo vệ tài nguyên rừng.

Tuy nhiên, do xây dựng từ lâu (năm 2013), nên đến thời điểm hiện tại, hệ thống nền tảng có nhiều tính năng, tiện ích không còn phù hợp để đáp ứng yêu cầu quản lý, sử dụng ngày càng cao.

Cơ sở dữ liệu chưa được cập nhật mới (dữ liệu tài nguyên rừng; giống cây trồng lâm nghiệp...); thông tin, dữ liệu còn manh mún, tản mát và còn thiếu, nhất là một số lĩnh vực quan trọng như: CSDL vùng trồng; các-bon rừng; đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng; lĩnh vực chế biến và thương mại lâm sản... Đồng thời, hệ thống CSDL chưa được kết nối, liên thông với các địa phương và các đơn vị liên quan.

Theo Cục Lâm nghiệp, đến nay vẫn còn thiếu (hoặc chưa được ứng dụng hiệu quả) các ứng dụng, dịch vụ công nghệ số thông minh như phân tích dữ liệu lớn (Big Data Analytics); công nghệ trí tuệ nhân tạo - AI (ứng dụng AI để phân tích hình ảnh và dữ liệu từ vệ tinh, drone hoặc cảm biến; hỗ trợ nhận diện loại cây, xác định khu vực rừng bị tổn hại hoặc bị chặt phá trái phép…); ứng dụng trong theo dõi nguồn gốc gỗ; nền tảng quản lý và giám sát rừng theo thời gian thực; phân tích carbon và phát thải khí nhà kính từ rừng…

Bên cạnh đó, việc chuyển đổi số đòi hỏi đầu tư lớn vào hạ tầng công nghệ, từ mạng máy móc, thiết bị đến các phần mềm phân tích. Điều này đòi hỏi kinh phí lớn, trong khi nguồn ngân sách chi cho đầu tư rất khó khăn. Thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao và kỹ năng về công nghệ số và quản lý dữ liệu.

Chuyển đổi số đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều bên liên quan, từ cơ quan nhà nước, doanh nghiệp đến cộng đồng địa phương. Tuy nhiên, việc đồng bộ hóa và đảm bảo an ninh dữ liệu vẫn còn nhiều khó khăn.

Về định hướng chuyển đổi số ngành lâm nghiệp thời gian tới, Cục Lâm nghiệp xác định, xây dựng hệ sinh thái lâm nghiệp số toàn diện, từ quản lý rừng, khai thác tài nguyên, đến bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, nâng cao năng lực quản lý, giám sát tài nguyên rừng một cách chính xác, kịp thời thông qua các ứng dụng công nghệ số. Tăng cường hiệu quả ứng dụng công nghệ số trong công tác quản lý và thực thi công việc của các cơ quan lâm nghiệp các cấp.

Cục Lâm nghiệp cũng đề xuất một số giải pháp để thúc đẩy chuyển đổi số trong lâm nghiệp như: Đầu tư vào hạ tầng công nghệ/hạ tầng kỹ thuật số; xây dựng hệ thống CSDL toàn diện (kho dữ liệu) về lâm nghiệp để lưu trữ, tăng cường kết nối và chia sẻ thông tin trên toàn quốc.

Phát triển các ứng dụng, dịch vụ thông minh trong quản lý, giám sát tài nguyên rừng, đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng và các lĩnh vực đặc thù của ngành. Tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp công nghệ, các tổ chức quốc tế để huy động nguồn lực và kinh nghiệm cho quá trình chuyển đổi số. Đẩy mạnh đào tạo nhân lực có kỹ năng về công nghệ số, đồng thời, nâng cao nhận thức về chuyển đổi số cho cán bộ lâm nghiệp các cấp. Thiết lập cơ chế pháp lý rõ ràng và thống nhất về quản lý dữ liệu và bảo mật thông tin, nhằm đảm bảo tính hiệu quả và an toàn trong quá trình triển khai.

chinhphu.vn
nam-moi
Tin bài khác
Bộ GDĐT điều chỉnh 5 nội dung trong Quy chế tuyển sinh đại học năm 2026

Bộ GDĐT điều chỉnh 5 nội dung trong Quy chế tuyển sinh đại học năm 2026

Ngày 15/02, Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GDĐT) công bố Thông tư số 06/2026/TT-BGDĐT ban hành Quy chế tuyển sinh các ngành đào tạo trình độ đại học và ngành Giáo dục Mầm non trình độ cao đẳng.
Công nghiệp robot Việt Nam trước "độ chín" phát triển

Công nghiệp robot Việt Nam trước "độ chín" phát triển

Sự bứt phá của trí tuệ nhân tạo, cùng những chủ trương lớn như Nghị quyết 57-NQ/ TW của Bộ Chính trị và danh mục công nghệ chiến lược, đang tạo ra “độ chín” mới cho lĩnh vực robot và tự động hóa tại Việt Nam. Trao đổi với Tạp chí Tự động hóa Ngày nay, ông Khổng Minh - Giảng viên Đại học Phenikaa, Trưởng phòng Robotics, Kỹ sư trưởng Công ty Phenikaa-X đã phân tích những chuyển động của ngành robot Việt Nam, từ nền tảng nhân lực, thị trường, chính sách đến con đường hình thành các sản phẩm robot “Make in Vietnam” đạt chuẩn quốc tế.
Kỳ 3: Chuyển giao công nghệ: Từ “mua được” đến “làm chủ được”

Kỳ 3: Chuyển giao công nghệ: Từ “mua được” đến “làm chủ được”

Trong nhiều năm, khi bàn đến chuyển giao công nghệ tại Việt Nam, cách tiếp cận phổ biến vẫn mang nặng tư duy giao dịch - mua thiết bị, mua dây chuyền, mua bản quyền, kèm theo các gói đào tạo ngắn hạn. Công nghệ, theo đó, được xem như một loại tài sản có thể “đóng gói” và chuyển dịch thông qua hợp đồng thương mại. Cách hiểu này không hoàn toàn sai, nhưng đã giản lược hóa bản chất của công nghệ.
Hồ Gươm rực sắc đào xuân, thành điểm check-in "nóng" nhất Hà Nội dịp Tết Bính Ngọ

Hồ Gươm rực sắc đào xuân, thành điểm check-in "nóng" nhất Hà Nội dịp Tết Bính Ngọ

Những ngày giáp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, khu vực quanh Hồ Hoàn Kiếm và phố cổ Hà Nội ngập tràn sắc xuân với hàng trăm gốc đào, quất cảnh cùng nhiều tiểu cảnh hoa được bố trí công phu. Không gian rực rỡ giữa trung tâm Thủ đô thu hút đông đảo người dân và du khách đến tham quan, chụp ảnh.
Từ dữ liệu thô đến giá trị kinh tế cao: Việt Nam cần gì để bứt phá?

Từ dữ liệu thô đến giá trị kinh tế cao: Việt Nam cần gì để bứt phá?

Trên thế giới, dữ liệu đã trở thành “mỏ vàng” của nền kinh tế tri thức. Các doanh nghiệp dẫn đầu đều xây dựng lợi thế cạnh tranh từ phân tích dữ liệu và trí tuệ nhân tạo. Tại Việt Nam, chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, song việc biến dòng dữ liệu khổng lồ thành giá trị kinh tế thực chất vẫn là bài toán chưa có lời giải trọn vẹn. Khung thể chế cho chia sẻ dữ liệu, thị trường giao dịch dữ liệu, nguồn nhân lực khoa học dữ liệu và hạ tầng điện toán vẫn còn nhiều khoảng trống. Chuyên gia kinh tế, TS. Nguyễn Minh Phong chia sẻ câu chuyện đâu là “điểm nghẽn”, đâu là “cửa mở” để Việt Nam không bỏ lỡ cơ hội trong cuộc đua kinh tế dữ liệu toàn cầu.
[E-Magazine] 9 doanh nhân tuổi Bính Ngọ

[E-Magazine] 9 doanh nhân tuổi Bính Ngọ

Sinh năm 1966 - năm Bính Ngọ, một thế hệ bước ra đời giữa những khúc quanh lớn của thế giới như Chiến tranh Lạnh khép lại, toàn cầu hóa mở ra, công nghệ tăng tốc, còn các nền kinh tế thì liên tục tự làm mới mình. TĐHNN chọn giới thiệu 9 doanh nhân dưới đây không chỉ như những câu chuyện làm giàu, mà như những lát cắt sinh động về cách con người thích nghi, dẫn dắt và để lại dấu ấn trong trật tự kinh tế - xã hội đương đại.
Kỳ 2: Đầu tư không tự động biến thành năng lực nội sinh

Kỳ 2: Đầu tư không tự động biến thành năng lực nội sinh

Trong hơn ba thập niên thu hút đầu tư nước ngoài, FDI đã trở thành một cấu phần quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Các dự án FDI quy mô lớn đã mang theo vốn, công nghệ, tiêu chuẩn quốc tế và phương thức quản trị hiện đại, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng, xuất khẩu và tạo việc làm. Chính vì vậy, trong một thời gian dài, FDI thường được xem là “con đường ngắn” để tiếp cận công nghệ.
Hệ sinh thái doanh nghiệp: Trụ cột phát triển của Hội Tự động hóa Việt Nam giai đoạn 2025-2030

Hệ sinh thái doanh nghiệp: Trụ cột phát triển của Hội Tự động hóa Việt Nam giai đoạn 2025-2030

Năm 2025, khái niệm “Hệ sinh thái doanh nghiệp VAA” lần đầu tiên được đặt ra như một trọng tâm trong hoạt động của Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc nhiệm kỳ 2025-2030 của Hội vừa diễn ra vào ngày 27/12/2025 cũng đã khẳng định việc phát triển Hệ sinh thái doanh nghiệp VAA là nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên trong nhiệm kỳ. Trước thềm Xuân Bính Ngọ, TS. Đỗ Nguyên Hưng, tân Tổng Thư ký VAA nhiệm kỳ 2025-2030, cũng là người khởi xướng xây dựng Đề án phát triển Hệ sinh thái doanh nghiệp VAA đã có những chia sẻ xung quanh ý tưởng, cũng như kỳ vọng khi tập trung cho đề án này/
Nhân lực nào vận hành thế giới số?

Nhân lực nào vận hành thế giới số?

Những dây chuyền sản xuất tự động chạy xuyên đêm, lưới điện thông minh tự cân bằng tải, hệ thống giao thông điều tiết theo dữ liệu thời gian thực,… đang trở thành cảnh quan quen thuộc của nền công nghiệp số. Máy móc ngày càng ít sai sót, thuật toán ngày càng tinh vi. Nhưng giữa nhịp vận hành tưởng như trơn tru ấy, một câu hỏi âm thầm hiện lên: Ai đang thực sự hiểu, giám sát và quyết định khi hệ thống vượt khỏi những kịch bản đã được lập trình?
Chùa Thắng Nghiêm Quốc Tự - "tọa độ" tâm linh mới của đầu xuân 2026

Chùa Thắng Nghiêm Quốc Tự - "tọa độ" tâm linh mới của đầu xuân 2026

Chỉ mới xuất hiện trong danh sách các địa điểm check-in đẹp đầu năm 2026, Chùa Thắng Nghiêm Quốc Tự (Mật Viện Thắng Nghiêm) đã nhanh chóng thu hút đông đảo du khách bởi không gian cổ kính, kiến trúc đậm dấu ấn Phật giáo truyền thống và bề dày lịch sử hơn một thiên niên kỷ gắn liền với vùng đất Khúc Thủy bên dòng sông Nhuệ.
song-gia-tri