![]() |
| TS. Nguyễn Minh Phong, nguyên Trưởng Phòng Nghiên cứu kinh tế, Viện Nghiên cứu phát triển Kinh tế - Xã hội Hà Nội |
Ở góc độ là nhà kinh tế học, ông đánh giá thế nào về sự chuyển biến trong nhận thức của Đảng và Nhà nước ta về kinh tế dữ liệu?
TS. Nguyễn Minh Phong: Kinh tế dữ liệu là học phần mới của kinh tế số. Khái niệm này xuất hiện khi có cuộc cách mạng viễn thông, đặc biệt là internet, kinh tế số. Khi chúng ta thúc đẩy chuyển đổi số và kinh tế số cũng đã cập nhật đến kinh tế dữ liệu, có những điều chỉnh và nắm bắt nhận thức, từ đó đưa ra những cơ sở pháp lý và thực hiện một số hoạt động để phát triển dữ liệu. Bước đầu chúng ta đã hình thành những nhận thức cần thiết, thấy được triển vọng và xây dựng cơ chế khai thác, đặc biệt trong việc xây dựng và phát triển Big Data số của cả nước. Trước mắt chúng ta đã tập trung vào đất đai và dân cư - 2 bộ phận lớn của dữ liệu quốc gia, cũng như hợp phần lớn của kinh tế số.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp đã chú ý nhiều hơn, chuẩn bị nhiều hơn các hoạt động liên quan dữ liệu, trong đó bao gồm thu thập chính sách, thu thập thị trường, đối tác cũng như các nghiệp vụ sâu trong quản lý của đơn vị tùy theo yêu cầu của mình.
Việt Nam đang có những chuyển động khá mạnh và thực chất về kinh tế số trong đó đặc biệt có dữ liệu. Tuy nhiên, trên thực tế quá trình này vẫn chậm. Ví dụ như số hóa giấy tờ của các cơ quan hành chính Nhà nước đang rất chậm. Vấn đề liên thông giữa các cấp trong một địa phương, giữa các ngành, đặc biệt giữa các lĩnh vực khác nhau.
Đâu đó vẫn còn tư duy độc quyền khai thác lợi nhuận độc quyền từ việc xây dựng các cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Các hoạt động kinh tế dựa trên dữ liệu số vẫn chưa thực sự hình thành và chưa được đo lường một cách đầy đủ, chủ yếu áp dụng trên cơ sở tự phát. Các doanh nghiệp cũng như các ngành theo chỉ đạo và nhiệm vụ phân công, phân cấp chứ chưa thực sự hình thành một nền kinh tế số mang tầm quốc gia hay trong cộng đồng doanh nghiệp một cách phổ biến.
Nói cách khác, dữ liệu số trong nền kinh tế vĩ mô và vi mô vẫn chưa được khai thác ở tầm kinh tế, mới chỉ khai thác ở phần quản lý, chưa hình thành một ngành kinh tế dữ liệu thật sự. Việt Nam vẫn thiếu các trung tâm lưu trữ, hệ thống hạ tầng để các cơ sở dữ liệu được xây dựng và tồn tại và phát triển, duy trì. Nó không chỉ đòi hỏi về nền tảng máy chủ, nền tảng con người, nhân lực về công nghệ và những vấn đề khác, rất tốn tiền và tốn điện. Ngay cả các tiêu chí, tiêu chuẩn xây dựng các hầm hay trung tâm dữ liệu cũng chưa thật sự rõ ràng.
Trong khi đó các quốc gia khác, ví dụ như Trung Quốc từ hơn 20 năm trước đã có các hầm dữ liệu thông hai đầu, chứa toàn bộ các dữ liêu về y tế, giáo dục, kinh tế,…
Tóm lại Việt Nam là nước có nhiều tiềm năng, nhu cầu phát triển dữ liệu và kinh tế dữ liệu nhưng các động thái chuyển động trên thực tế kể cả về thể chế vĩ mô, vi mô mới là những bước đi đầu tiên.
Ông vừa nhắc đến các lợi thế, ông có thể nói rõ hơn?
TS. Nguyễn Minh Phong: Lợi thế bắt đầu từ việc Việt Nam là một nước đang phát triển mạnh, nhanh, dân số trên 100 triệu người, quy hoạch vùng kinh tế đứng 32 thế giới, thị trường đứng top 15 về thương mại, 20 thế giới về thu hút FDI,… đang có nhiều lĩnh vực chỉ thiếu các hệ thống dữ liệu lớn để phục vụ cho quản lý, cũng như cho nền kinh tế, cho đời sống dân sự.
Tiềm năng ở đây rất lớn, theo nghĩa là nhu cầu, các điều kiện hình thành cũng đã có, chỉ có điều công tác tổ chức, nền tảng công nghệ cũng như các sự phối kết hợp để hình thành nó chưa tới.
Tiềm năng nữa là chúng ta đang định hướng rất mạnh cho chuyển đổi số, các Nghị quyết của Bộ Chính trị cũng như các mục tiêu về chiến lược phát triển kinh tế số ở Việt Nam, chiếm đến 30% GDP là dữ liệu cực kỳ quan trọng.
Nhìn vào kết quả cụ thể, ông thấy trong năm qua, đâu là thành tựu đáng ghi nhận của kinh tế dữ liệu?
TS. Nguyễn Minh Phong: Hiện có Đề án 06 Bộ Công an liên quan đến dữ liệu cư dân cộng với bộ nông nghiệp môi trường hình thành dữ liệu về đất đai, tuy nhiên còn chậm (cụ thể mọi người vẫn còn phải photo sổ đỏ khi giao dịch ở chính quyền 2 cấp). Tuy nhiên, dữ liệu liên thông qua VNeID cũng đã tích hợp tốt, trên cơ sở đó có thể phát triển mạnh dữ liệu Big Data, phát triển nền kinh tế dữ liệu số.
Những mảng liên quan đến dữ liệu dành cho doanh nghiệp còn hiếm. Bộ Công Thương hay một số trang mạng thì có dữ liệu nhưng không hệ thống và không được cập nhật thường xuyên, không đầu tư chuyên nghiệp cho nên cũng phập phù theo phong trào và mang tính thời điểm chưa trở thành cơ sở dữ liệu thực sự sử dụng cho hoạt động kinh doanh của cả cộng đồng.
Dữ liệu chưa xuyên suốt, chưa đầy đủ, chỉ đâu đó một vài hội làm một vài động thái, nhưng thậm chí danh sách hội viên cũng chưa chia sẻ cho nhau, trong khi danh sách hội viên là một tài nguyên số rất lớn, một triệu doanh nghiệp biết nhau rõ ràng sẽ tốt hơn. Từ dữ liệu danh sách đó, có thể phân theo ngành, theo quy mô, theo địa phương, định hướng phát triển,…
![]() |
| Việt Nam được đánh giá có tiềm năng kinh tế dữ liệu do là quốc gia có tốc độ chuyển đổi số nhanh, tỷ lệ người dùng Internet cao, hạ tầng viễn thông phát triển |
Nghị quyết 57-NQ/TW khẳng định làm giàu, khai thác tối đa dữ liệu, đưa dữ liệu thành tư liệu sản xuất chính. Trong bối cảnh hiện nay đâu là những thách thức chính, thưa ông?
TS. Nguyễn Minh Phong: Dữ liệu là một phần của lực lượng sản xuất mới. Theo nguyên tắc, lực lượng sản xuất bao gồm các công cụ ví dụ cuốc xẻng, máy móc; tư liệu lao động, đối tượng lao động ví dụ như đất đai, nguyên vật liệu, bây giờ là dữ liệu. Học phần của nó bao gồm các máy móc hiện đại, công nghệ, AI, vật liệu mới, dữ liệu hợp thành bộ phận dữ liệu sống mới. Cái này các nước trên thế giới đang phát triển rất mạnh, nước nào càng phát triển thì bộ phận đó càng phát triển. Việt Nam đang bước đầu hình thành cái này.
Các khó khăn trước hết đó là vấn đề nhận thức chung, chưa có nhận thức về góc độ lợi ích chung, chưa có một cái thống nhất chung xây dựng dữ liệu làm gì, phục vụ cho ai, ai làm? Mới dừng lại ở tư duy ngành, tư duy địa phương hoặc tư duy của một số người trong cộng đồng, ở tầm nhỏ chứ chưa phải tư duy toàn quốc.
Thách thức tiếp theo là cơ sở pháp lý để xây dựng, vận hành, chia sẻ, tính phí và đánh giá để đảm bảo an toàn về mặt dữ liệu. Dữ liệu chưa đầy đủ, chưa tới.
Vừa rồi cũng may mắn đã có những Luật Công nghệ số, Luật Dữ liệu, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân,… nhưng vẫn chưa thực sự hướng tới dữ liệu khuyến khích nhà kinh tế, mới chỉ là dữ liệu cá nhân, bảo vệ quyền lợi công dân.
Về cơ sở hạ tầng, thiếu trung tâm, thiếu những công nghệ nguồn để lưu trữ, xử lý số liệu, đặc biệt tệp lưu trữ số lượng lớn như là cơ chế để khai thác tiếp cận.
Cuối cùng là những con người, bộ phận thể chế tập trung chuyên ngành chưa có, chưa định hình, chưa có nguồn kinh phí, chưa kể tâm lý của quản lý Nhà nước, doanh nghiệp không muốn chia sẻ dữ liệu cá nhân, nên việc xây dựng dữ liệu cộng đồng để phát triển kinh tế số là chưa tới.
Ngoài ra còn bị chi phối bởi các luật về an ninh, bảo vệ chủ quyền đất nước, luật về tài liệu mật,… cũng ảnh hưởng về cơ sở hình thành và phạm vi khai thác dữ liệu, phục vụ dữ liệu.
Ngày 29/2 Ban Chỉ đạo số trong cơ quan Đảng có hội nghị tổng kết, đồng chí Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú nêu yêu cầu cần chấm dứt tình trạng triển khai quá nhiều phần mềm, nhiều hệ thống thông tin chưa đầy đủ. Ông đánh giá thế nào về yêu cầu này?
TS. Nguyễn Minh Phong: Điều này phản ánh đúng thực tế cơ sở hạ tầng của chúng ta hiện nay đang là “5 cha, 3 mẹ”, nhiều nhưng chưa kết nối được với nhau, thiếu mạch chủ. Ngay cả những phần mềm nhập khẩu từ lâu đến nay đã lạc hậu như của bên Hải quan, nhưng “bỏ thì thương, vương thì tội”. Chúng ta tìm cách khắc phục nhưng rất là chậm. Chưa kể, chúng ta chưa có chiến lược công nghệ chung cho cơ sở dữ liệu, vì thế mà các cơ sở dữ liệu có nhưng chỉ đóng gói ở bộ phận của họ, không thể liên thông được.
Vì chuyển đi chuyển lại, kết nối liên thông đặc biệt là thì phải đảm bảo an toàn, tránh bị hack, tránh bị mất, tránh bị sai lệch, tránh bị đột nhập,… tất cả những vấn đề đó cần phải có công nghệ thống nhất thì mới trơn tru, thông suốt, đảm bảo yêu cầu. Hiện nay chúng ta đang đầu tư theo ngành, bộ phận. Các ngành, bộ phận tùy tiện nhận công nghệ, tùy tiện xây dựng các hệ thống quản lý riêng nên sự kết nối liên thông, cập nhật thường xuyên trên hệ thống dữ liệu số là không có.
Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị có tác động tích cực như thế nào đến kinh tế dữ liệu tại Việt Nam, thưa ông?
TS. Nguyễn Minh Phong: Nghị quyết 68 liên quan đến phát triển kinh tế tư nhân. Điều quan trọng nhất của Nghị quyết là đã định hình được quan điểm về xây dựng hệ thống dữ liệu, kinh tế, phục vụ cộng đồng doanh nghiệp, nhưng hiện còn đang chờ Chính phủ, chờ các cơ quan chức năng để thể chế hóa, làm như nào, theo luật nào, nguồn lấy dữ liệu, quyền khai thác dữ liệu,… Tất cả đang chờ, nhưng dẫu sao, trong tư duy của Nghị quyết 57-NQ/TW ban hành trước đó đã coi đây là những vấn đề trọng tâm, được ưu tiên trong phát triển nền kinh tế số ở Việt Nam nói chung và kinh tế tư nhân nói riêng. Đặc biệt, tới đây còn cần các văn bản dưới luật để hướng dẫn triển khai. Ví dụ như thể chế hóa thành nhiệm vụ, phân công, phân cấp cho các bộ phận liên quan xung quanh vấn đề xây dựng, quản lý, khai thác, cũng như phát triển kinh tế dữ liệu.
Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng đặt ra mục tiêu tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP, đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp, tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%. Bước sang năm 2026, ông có đề xuất như thế nào để hiện thực hóa được mục tiêu đó?
TS. Nguyễn Minh Phong: Phát triển kinh tế số hiện nay đang thực hiện và triển khai ở nhiều cấp, các doanh nghiệp, các lĩnh vực, các ngành, các bộ. Nó được cụ thể hóa vào các định hướng, kể cả chính quyền số, doanh nghiệp số, xã hội số, công dân số, các trường học, các cơ quan khác đã được số hóa.
Có điều hiện nay dư luận, đặc biệt là các chuyên gia đang băn khoăn hai điều:
Thứ nhất: thống kê kinh tế số như thế nào chưa thật rõ, tính trùng, tính lạc hậu, không đúng với kinh tế số. Do đó, phương pháp thống kê, chỉ tiêu thống kê kinh tế số cần phải được hoàn thiện.
Thứ hai: bộ phận chuyên trách là ai?. Công tác thống kê hiện nay chưa có trách nhiệm thu gom các số liệu từ doanh nghiệp, trong khi kinh tế số phát triển chủ yếu ở doanh nghiệp. Hiện nay cơ quan chuyên trách để thống kê kinh tế số, thực hiện các nhiệm vụ chuyên biệt, đặc thù để quản lý, phát triển, giám sát điều chỉnh sự phát triển này cũng chưa có.
Thứ ba: bản thân các hoạt động kinh tế số phụ thuộc vào chiến lược phát triển doanh nghiệp, vùng, địa phương, thậm chí là bộ ngành,… Tình hình hiện nay đang phải làm lại dữ liệu sau đợt sáp nhập chính quyền địa phương 2 cấp, tinh chỉ, sắp xếp lại giang sơn. Hầu hết các bộ, ngành, địa phương đều phải làm lại. Điều này khiến cho các dữ liệu cũ không sử dụng được nữa. Thời gian tới, phải xây dựng lại thật nhanh hệ thống cập nhật dữ liệu trên cơ sở thu gom những gì đã có, cập nhật để tính theo cái vận hành mới cho phù hợp, để có nền tảng đánh giá, so sánh, chỉ đạo. Đây cũng là những khó khăn, nhưng cũng là nhiệm vụ cần phải thực hiện trong thời gian tới.
Cuối cùng, đào tạo con người đang là vấn đề bức xúc nhất. Hiện nay chúng ta đã có đào tạo nhân lực nhưng chưa thực sự dựa theo thị trường mà dựa trên phỏng đoán, mà phỏng đoán rất dễ gây tình trạng khó tìm việc hoặc không đạt yêu cầu trong vấn đề xây dựng kinh tế số. Đây là nội dung lớn trong chiến lược đổi mới giáo dục. Nền giáo dục đang tồn tại rất nhiều vấn đề từ phổ thông đến dạy nghề, đến bây giờ là kinh tế số, đòi hỏi đào tạo trình độ rất cao, gắn được với ngành nghề, gắn với đầu ra mới sử dụng được. Đây là nhiệm vụ cũng là thách thức của ngành giáo dục.
Cảm ơn ông về những thông tin góp phần thúc đẩy Kinh tế dữ liệu trong thời gian tới!
Trà Giang, Minh Hạnh (thực hiện)