![]() |
| Kinh tế số được xác định là trụ cột dài hạn, với đích đến chiếm khoảng 30% GDP vào năm 2030 và 40% GDP vào năm 2045. Ảnh minh họa |
Xây dựng nền kinh tế số minh bạch, bền vững
Có thể thấy, vấn đề tăng trưởng trong kỷ nguyên mới không còn được đo bằng số lượng dự án, vốn đầu tư, sản lượng; thay vào đó, các doanh nghiệp định vị bằng năng suất, hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng.
Khi công nghệ và AI đang dần chiếm lĩnh thị trường lao động, bài toán đặt ra cho các doanh nghiệp, cơ quan ban ngành là phải thay đổi chiến lược phát triển với những mô hình tăng trưởng phù hợp.
Trong chiến lược chuyển mình đó, kinh tế số được xác định là mô hình trọng tâm để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Cụ thể, thương mại điện tử, fintech, logistics thông minh, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và trí tuệ nhân tạo được kết nối chặt chẽ, trở thành hạ tầng của mọi ngành kinh tế. Song song với đó, chính phủ số, doanh nghiệp số, công dân số cũng được xác định là những chiến lược quan trọng để vận hành một nền kinh tế minh bạch, nhanh và hiệu quả.
Bên cạnh đó, tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn đang trở thành điều kiện bắt buộc để các quốc gia có đủ điều kiện hội nhập quốc tế. Trong đó, giảm phát thải nhà kính, phát triển năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường là những điều kiện cần thiết để doanh nghiệp Việt đạt tiêu chuẩn ESG, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
![]() |
| Đổi mới sáng tạo là con đường để mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam tái cấu trúc ngành kinh tế, định hình chiến lược phát triển,... (Ảnh minh họa) |
Ứng dụng công nghệ trong đổi mới sáng tạo toàn diện, thúc đẩy nền kinh tế số bền vững
Khi đã xác định kinh tế số là động cơ tăng trưởng, điều mỗi quốc gia cần làm là đổi mới sáng tạo toàn diện. Mỗi doanh nghiệp, mỗi đơn vị phải xác định làm ra công nghệ, ứng dụng công nghệ chứ không chỉ nhìn ngó vào những đổi mới công nghệ trên thế giới.
Đổi mới sáng tạo là con đường để mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam tái cấu trúc ngành kinh tế, định hình chiến lược phát triển, chuyển từ gia công sang tự động hóa chuỗi sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, định vị sản phẩm kinh tế của Việt Nam lọt vào phân khúc giá trị cao.
Chúng ta hoàn toàn có thể nuôi dưỡng tư duy công nghệ qua hệ sinh thái khởi nghiệp, sự liên kết chặt chẽ giữa các viện nghiên cứu với trường đại học, doanh nghiệp, ứng dụng công nghệ vào sản xuất, nghiên cứu. Khi đó, các ngành công nghiệp bán dẫn, công nghệ sinh học, công nghệ sạch, logistics, nông nghiệp công nghệ cao hay logistics,… trở thành những mắt xích quan trọng giúp nâng cấp chuỗi giá trị, dịch vụ hậu mãi, định vị thương hiệu.
Bên cạnh nỗ lực xây dựng nền kinh tế số, chính phủ số của Nhà nước, doanh nghiệp, các đơn vị, ban ngành, quốc tế; rất cần người dân thay đổi tư duy, học hỏi công nghệ, không ngừng nâng cao kỹ năng số và tư duy hội nhập, để trở thành những công dân số sẵn sàng với hội nhập toàn cầu.
Tại Việt Nam, nhiều doanh nghiệp, Tập đoàn lớn đã xác định chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và ứng dụng khoa học công nghệ vào quy trình sản xuất, quản trị doanh nghiệp, tự động hóa hệ thống sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng của sản phẩm. Có thể kể đến các doanh nghiệp công nghệ như Viettel, FPT, C.T Group, Minh Đức Group, ETEK, Weldcom,... đây là những doanh nghiệp, tập đoàn định vị được thương hiệu thông qua chuyển đổi số, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, góp phần thúc đẩy nền kinh tế số quốc gia phát triển bền vững.
Cụ thể, C.T Group là tập đoàn đang chuyển dịch mạnh mẽ sang công nghệ cao, UAV, và kinh tế không gian cận biên (LAE) từ năm 2026, hướng tới chiến lược "Go Global" trong thời gian tới. Weldcom và ETEK được biết đến là những doanh nghiệp công nghệ cung cấp giải pháp tự động hóa toàn diện, ứng dụng trong công nghiệp cơ khí, chế tạo máy,...
Trong lĩnh vực xây dựng, Minh Đức Group khẳng định được tên tuổi trên thị trường xây dựng trong nước và quốc tế, mở rộng thị trường ra nhiều nước trên thế giới nhờ thúc đẩy chuyển đổi số mạnh mẽ trong những năm qua.
Tương tự, báo cáo tài chính của Viettel cho biết, hết Quý IV/2025, Viettel Global đạt doanh thu thuần 12.306 tỷ đồng, mức doanh thu theo quý cao nhất trong lịch sử hoạt động. Xu hướng tăng trưởng đã được duy trì liên tục trong 16 quý liên tiếp. Lũy kế cả năm 2025, doanh thu thuần của Viettel Global đạt 44.188 tỷ đồng, tăng 28% so với năm 2024, cao gấp 5-6 lần tăng trưởng trung bình ngành toàn thế giới. Lợi nhuận sau thuế đạt 11.273 tỷ đồng, tăng 57% so với cùng kỳ và là mức cao nhất từ trước đến nay.
Đâu là mô hình bền vững, trụ cột phát triển dài hạn cho Việt Nam?
Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, có thể thấy, trải qua quá trình chuyển mình, chiến lược phát triển, các nhà hoạch định chính sách đã đưa ra mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, số hóa, xanh, đổi mới sáng tạo; tự động hóa trong sản xuất, logistics và nông nghiệp; đào tạo lại lực lượng lao động theo hướng kỹ năng số và công nghệ; nâng cấp quản trị doanh nghiệp theo chuẩn quốc tế; khuyến khích đầu tư vào R&D thay vì chỉ mở rộng quy mô.
Tại Việt Nam, kinh tế số đã được xác định là trụ cột dài hạn. Nghị quyết 57-NQ/TW đề ra quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP năm 2030 và tối thiểu 50% GDP năm 2045, định hướng phát triển kinh tế số thời gian tới sẽ phải thực chất hơn, sâu hơn, tạo ra giá trị gia tăng nhiều hơn từ những đổi mới sáng tạo mang tính đột phá.
Chính phủ số với dịch vụ công trực tuyến toàn diện, doanh nghiệp số lấy dữ liệu làm trung tâm và công dân số với kỹ năng số phổ cập sẽ tạo nên nền tảng cho AI, dữ liệu mở, thanh toán số và thương mại điện tử xuyên biên giới phát triển mạnh mẽ.
Tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn gắn với mục tiêu giảm 43% phát thải vào năm 2030 theo cam kết quốc tế. Năng lượng tái tạo như gió, mặt trời, hydro xanh; chuỗi cung ứng xanh cho dệt may, da giày, điện tử; cùng kinh tế tuần hoàn trong nhựa, thép, xi măng và nông nghiệp sẽ giúp Việt Nam vừa bảo vệ môi trường, vừa nâng cao năng lực cạnh tranh.
Đổi mới sáng tạo hướng tới mục tiêu chi cho R&D đạt khoảng 2% GDP vào năm 2035, thông qua các trung tâm đổi mới sáng tạo tầm khu vực, sandbox cho fintech, AI, xe tự hành, y sinh và chính sách thu hút chuyên gia toàn cầu.
Theo chuyên gia kinh tế, TS. Nguyễn Minh Phong - nguyên Trưởng Phòng Nghiên cứu kinh tế, Viện Nghiên cứu phát triển Kinh tế - Xã hội Hà Nội, Việt Nam là một nước đang phát triển mạnh, nhanh, dân số trên 100 triệu người, quy hoạch vùng kinh tế đứng 32 thế giới, thị trường đứng top 15 về thương mại, 20 thế giới về thu hút FDI,…
Những số liệu này cho thấy, tiềm năng và nguồn lực để xây dựng một nền kinh tế số ở Việt Nam là rất lớn. Việt Nam cũng đang định hướng rất mạnh cho chuyển đổi số, các Nghị quyết của Bộ Chính trị cũng như các mục tiêu về chiến lược phát triển kinh tế số ở Việt Nam, chiếm đến 30% GDP là dữ liệu rất quan trọng. Việt Nam sẽ phát triển được nền kinh tế số nếu công tác tổ chức, nền tảng công nghệ cũng như các sự phối kết hợp để hình thành trung tâm dữ liệu số được hợp nhất chặt chẽ hơn.
| TS. Nguyễn Minh Phong cũng cho biết, Nghị quyết 68-NQ/TW liên quan đến phát triển kinh tế tư nhân đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn. Điều quan trọng nhất của Nghị quyết là đã định hình được quan điểm về xây dựng hệ thống dữ liệu, kinh tế, phục vụ cộng đồng doanh nghiệp, nhưng hiện còn đang chờ Chính phủ, chờ các cơ quan chức năng để thể chế hóa, làm như nào, theo luật nào, nguồn lấy dữ liệu, quyền khai thác dữ liệu,… Tất cả đang chờ, nhưng dẫu sao, trong tư duy của Nghị quyết 57-NQ/TW ban hành trước đó đã coi đây là những vấn đề trọng tâm, được ưu tiên trong phát triển nền kinh tế số ở Việt Nam nói chung và kinh tế tư nhân nói riêng. Đặc biệt, tới đây còn cần các văn bản dưới luật để hướng dẫn triển khai. Ví dụ như thể chế hóa thành nhiệm vụ, phân công, phân cấp cho các bộ phận liên quan xung quanh vấn đề xây dựng, quản lý, khai thác, cũng như phát triển kinh tế dữ liệu. |