Khoảng cách giữa nhà trường và doanh nghiệp không thể được giải quyết chỉ bằng thêm những biên bản ghi nhớ, mà cần chuyển sang một mô hình hợp tác sâu hơn: doanh nghiệp tham gia từ xác định nhu cầu, thiết kế chương trình đến đào tạo, thực hành và đánh giá năng lực người học.
Khoảng trống lớn nhất không còn là số lượng người học
Ngày 28/9/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Diễn đàn hợp tác Nhà trường - Doanh nghiệp 2026 tại Trường Đại học Văn Lang với chủ đề “Kết nối đặt hàng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành công nghệ mới nổi”. Diễn đàn quy tụ khoảng 250 đại biểu, gồm đại diện gần 100 trường đại học, cao đẳng và 55 doanh nghiệp, cùng các đơn vị thuộc Bộ và tổ chức liên quan.
Phát biểu khai mạc, GS.TS. Lê Quân - Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nhấn mạnh “một nghịch lý đang tồn tại: nhà trường có thể đánh giá sinh viên đạt loại giỏi, xuất sắc, nhưng khi bước vào doanh nghiệp, kết quả đánh giá đó chưa phải lúc nào cũng đồng nghĩa với khả năng đáp ứng công việc.” Vấn đề vì thế không đơn giản là đào tạo thêm người mà chính là đào tạo ra người có thể làm được gì.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2025, khối đại học đóng góp 83,6% số công bố Scopus của cả nước, tương đương 21.014/25.132 bài. Tuy nhiên, chỉ khoảng 9% kết quả nghiên cứu được khai thác thương mại; 22% giảng viên kỹ thuật, công nghệ có thời gian làm việc tại doanh nghiệp; khoảng 30% quy mô đào tạo có yếu tố đặt hàng từ doanh nghiệp hoặc địa phương.
![]() |
| GS.TS. Lê Quân - Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phát biểu khai mạc diễn đàn. Ảnh: Nart Thái |
Như vậy, năng lực tạo ra tri thức của các trường đại học không phải là điểm yếu duy nhất. Khoảng trống nằm ở khâu chuyển hóa tri thức thành năng lực ứng dụng và giá trị thị trường. Nguyên nhân khiến liên kết chưa thực chất là động lực giữa nhà trường và doanh nghiệp chưa đồng nhất, lợi ích chưa rõ, thiếu các tổ chức trung gian và còn tâm lý e ngại rủi ro. Hệ quả là một thực trạng được mô tả khá trực diện: “nhiều ký kết, ít hợp đồng”.
Doanh nghiệp và nhà trường cùng đưa năng lực thích ứng vào quá trình đào tạo
Trong bức tranh nguồn nhân lực, phần trình bày của ông Hirohide Uchiyama - Giám đốc Marketing, Navigos Group, cung cấp một lát cắt đáng chú ý từ thị trường lao động.
Theo ông Hirohide Uchiyama trình bày tại diễn đàn, nhu cầu tuyển dụng năm 2026 tăng so với giai đoạn 2023–2025. Đáng chú ý, khoảng 30% doanh nghiệp có kế hoạch tuyển sinh viên mới tốt nghiệp trong năm 2026, trong khi chỉ số nhu cầu tuyển fresher đạt 180% so với mức cơ sở được sử dụng trong dữ liệu. Điều này cho thấy thị trường vẫn mở cửa với nhân lực trẻ nhưng cánh cửa đó không mở theo cách cũ. Dữ liệu của Navigos cho thấy nhóm kỹ năng được doanh nghiệp tìm kiếm nhiều nhất gồm khả năng thích ứng, linh hoạt và nhanh nhạy với 39%; giải quyết vấn đề 34%; năng lực công nghệ 26%; tư duy phân tích 22%; khả năng học hỏi suốt đời 24%. AI và dữ liệu lớn được 16% doanh nghiệp lựa chọn.
Trong khi đó, người tìm việc lại có xu hướng ưu tiên mạnh hơn các kỹ năng kỹ thuật. Năng lực công nghệ đứng ở mức 38%, AI và dữ liệu lớn 33%, kỹ năng lãnh đạo và tạo ảnh hưởng xã hội 32%. Khoảng cách này đáng chú ý, người học đang có xu hướng nhìn vào những công cụ và công nghệ mà họ cho rằng thị trường đang cần, trong khi doanh nghiệp lại quan tâm nhiều hơn đến khả năng sử dụng kiến thức để xử lý tình huống, phối hợp với con người và thích ứng với thay đổi.
Nói cách khác, doanh nghiệp không chỉ tuyển một người “biết AI”, “biết lập trình” hay “biết một phần mềm”. Doanh nghiệp cần người biết dùng công nghệ để giải quyết một vấn đề cụ thể, trong kỷ nguyên AI, kỹ năng kỹ thuật và kiến thức chuyên môn đơn thuần không còn đủ. Nếu nhà trường chỉ cập nhật thêm một vài học phần AI, thêm công cụ số hoặc đưa một công nghệ mới vào giáo trình, khoảng cách với doanh nghiệp có thể vẫn còn nguyên. Điều cần thay đổi là cách sinh viên học và cách năng lực được hình thành.
Ở phía giáo dục, PGS.TS. Trần Thị Mỹ Diệu - Hiệu trưởng Trường Đại học Văn Lang nhấn mạnh “việc người học cần hiểu mình muốn làm gì, tạo ra giá trị gì; đồng thời nhà trường xây dựng AI Foundation như nền tảng cho sinh viên, sau đó kết nối AI với từng lĩnh vực chuyên môn như thiết kế, truyền thông, kinh doanh hay kỹ thuật. Hoạt động học tập được định hướng vào giải quyết vấn đề và kiến tạo giá trị.”
Hướng tiếp cận này có điểm chung khá rõ với dữ liệu thị trường lao động mà Navigos đưa ra. Nếu doanh nghiệp cần người có khả năng thích ứng, giải quyết vấn đề và học tập liên tục, thì chương trình đào tạo cũng phải tạo ra môi trường để sinh viên được thử, được làm, được giải quyết vấn đề và làm việc với những bài toán không có sẵn đáp án.
![]() |
| PGS.TS. Trần Thị Mỹ Diệu - Hiệu trưởng Trường Đại học Văn Lang chia sẻ tại diễn đàn. Ảnh: Nart Thái |
Trong năm 2026, Văn Lang cũng tiếp tục mở rộng hợp tác với các đối tác bên ngoài nhà trường, trong đó có các chương trình hướng tới kết nối đào tạo với thực tiễn nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Điều này cho thấy vai trò của trường đại học đang thay đổi, nhà trường không còn chỉ là nơi truyền đạt kiến thức trước khi sinh viên bước ra thị trường lao động. Trong một số ngành công nghệ mới, thị trường lao động phải trở thành một phần của môi trường học tập. Và đây cũng là lý do việc đưa doanh nghiệp vào sâu hơn trong quá trình đào tạo trở nên cần thiết.
AI đang rút ngắn khoảng cách giữa “học” và “làm”
Nếu trước đây sinh viên có thể học kiến thức nền trong vài năm rồi mới bước vào môi trường doanh nghiệp, tốc độ thay đổi công nghệ hiện nay đang khiến mô hình đó bộc lộ nhiều hạn chế.
PGS.TS. Nguyễn Hữu Quỳnh - Phó Chủ tịch FISU Việt Nam, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học CMC, trong chuyên đề “Đại học thời AI”, đặt trọng tâm vào sự chuyển dịch từ giáo dục dựa trên nội dung sang giáo dục dựa trên năng lực. AI không chỉ là một công cụ hỗ trợ giảng dạy. Nó đang làm thay đổi cách thiết kế trải nghiệm học tập, cách đánh giá và vai trò của giảng viên. Người học cần sớm tiếp cận trải nghiệm, nghiên cứu, dự án, tự học và học tập suốt đời.
![]() |
| Chia sẻ về những thay đổi của mô hình đại học trong kỷ nguyên AI của PGS.TS. Nguyễn Hữu Quỳnh – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học CMC |
Cách tiếp cận này cũng tương đồng với những vấn đề được Thứ trưởng Lê Quân đặt ra tại diễn đàn: doanh nghiệp cần tham gia sớm hơn vào quá trình đào tạo, cùng nhà trường xây dựng đề bài, dự án và môi trường thực hành. Theo chia sẻ của Thứ trưởng, “với những lĩnh vực công nghệ mới, doanh nghiệp có thể tham gia vào nhiều khâu: hỗ trợ thiết kế chương trình, chuyển giao sở hữu trí tuệ, đào tạo giảng viên, đào tạo thực hành và cùng triển khai các dự án để sinh viên học thông qua công việc thực tế.”
Một thay đổi đáng chú ý khác là sinh viên có thể tham gia các dự án liên ngành ngay từ năm đầu tiên. Khi một dự án có sự tham gia của giảng viên, sinh viên nhiều chuyên ngành và doanh nghiệp, người học không còn bị giới hạn trong phạm vi của một ngành hẹp mà có cơ hội tiếp cận nhiều công nghệ và bài toán khác nhau. Khi công cụ AI có thể hỗ trợ ngày càng nhiều phần việc chuyên môn, lợi thế của người lao động không còn nằm đơn thuần ở việc nhớ được bao nhiêu kiến thức hay sử dụng được bao nhiêu phần mềm. Lợi thế chuyển sang khả năng xác định đúng vấn đề, đặt câu hỏi, phối hợp với công nghệ, đánh giá kết quả và đưa ra quyết định.
Một ví dụ từ phía doanh nghiệp tại diễn đàn là ông Đinh Vĩnh Cường - Chủ tịch Tập đoàn 365 Group, với thông điệp xoay quanh xe tự hành và phòng LAB trong trường đại học.
Điểm đáng chú ý ở đây không phải bản thân chiếc xe tự hành, mà là cách doanh nghiệp nhìn vào bài toán nhân lực: công nghệ có thể thay đổi rất nhanh, nhưng để làm chủ công nghệ cần một thế hệ nhân lực được tiếp xúc với nó từ khi còn ở giảng đường. Đưa phòng LAB, thiết bị và bài toán thực tế vào trường học vì vậy có thể xem là một dạng đầu tư trực tiếp vào năng lực nhân lực, thay vì chỉ chờ nhà trường đào tạo xong rồi doanh nghiệp tuyển dụng.
Doanh nghiệp đưa bài toán vào trường. Nhà trường đưa tri thức và đội ngũ vào bài toán. Sinh viên tham gia giải quyết. Kết quả được đánh giá bằng năng lực thực tế, sản phẩm, khả năng tuyển dụng hoặc giá trị nghiên cứu - chuyển giao.
“Ba nhà” cần cùng chịu trách nhiệm về đầu ra
Với đào tạo, doanh nghiệp có thể tham gia đồng thiết kế chương trình, chuẩn đầu ra, đồng hướng dẫn và mở rộng đào tạo theo đặt hàng. Với nghiên cứu, bài toán cần xuất phát nhiều hơn từ nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và địa phương. Với đổi mới sáng tạo, cần các văn phòng chuyển giao, vườn ươm và cơ chế đồng đầu tư. Với chuyển đổi số, cần dữ liệu cung - cầu nhân lực và công nghệ để kết nối ba bên.
Đáng chú ý, định hướng chính sách mới xác định đặt hàng là một phương thức chính, kết hợp nền tảng số kết nối cung - cầu nhân lực, công nghệ và dự báo kỹ năng; đồng thời chuyển sang đánh giá bằng kết quả đầu ra.
Doanh nghiệp không thể chỉ nói “chúng tôi đang thiếu kỹ sư AI”, “thiếu nhân lực bán dẫn” hay “thiếu nhân lực tự động hóa”. Cần cụ thể hơn: vị trí đó làm công việc gì, sử dụng công nghệ nào, cần năng lực nào, tiêu chuẩn đầu ra ra sao và doanh nghiệp sẵn sàng tham gia đào tạo ở khâu nào.
Thứ trưởng Lê Quân cũng đặt vấn đề tương tự: có doanh nghiệp biết mình thiếu người nhưng chưa xác định rõ công việc, tiêu chuẩn và năng lực cụ thể; khi đó nhà trường rất khó xây dựng chương trình đào tạo phù hợp. Khi doanh nghiệp và nhà trường cùng ngồi lại để xác định rõ yêu cầu, bài toán sẽ trở nên khả thi hơn.
Đặt hàng không phải là đặt mua một số lượng sinh viên. Đặt hàng là đặt ra một chuẩn năng lực và cùng nhà trường tạo ra chuẩn năng lực đó. Khi khoảng cách nhà trường - doanh nghiệp trở thành một phần của năng lực cạnh tranh. Trong bối cảnh AI, bán dẫn, tự động hóa, logistics thông minh và phương tiện tự hành cùng phát triển, thị trường lao động sẽ tiếp tục thay đổi nhanh hơn chu kỳ cập nhật của nhiều chương trình đào tạo.
![]() |
| Diễn đàn quy tụ đại diện các trường đại học, doanh nghiệp và tổ chức liên quan, cùng tìm kiếm mô hình hợp tác đào tạo gắn với nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Ảnh: Nart Thái |
Từ góc nhìn thị trường lao động, Navigos cho thấy doanh nghiệp vẫn cần nhân lực trẻ nhưng yêu cầu ngày càng cao về khả năng thích ứng, giải quyết vấn đề và học hỏi. Từ phía nhà trường, Văn Lang cho thấy đào tạo trong thời đại AI phải gắn với nền tảng công nghệ, trải nghiệm và khả năng kiến tạo giá trị. Từ phía doanh nghiệp, 365 Group cho thấy công nghệ mới chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi có đội ngũ đủ năng lực làm chủ nó. Còn từ góc độ quản lý, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang thúc đẩy một mô hình mà trong đó Nhà nước kiến tạo, nhà trường đào tạo và nghiên cứu, doanh nghiệp đặt hàng và đầu tư.
Nếu những mối liên kết này được chuyển hóa thành chương trình đào tạo, dự án thực tế, phòng LAB, đề tài nghiên cứu, chuẩn năng lực và cơ hội việc làm cụ thể, khoảng cách giữa giảng đường và thị trường lao động sẽ không còn chỉ là một vấn đề của giáo dục. Nó sẽ trở thành một lợi thế cạnh tranh của hệ sinh thái công nghệ Việt Nam.