Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được kỳ vọng trở thành hạ tầng dữ liệu dùng chung, kết nối thông tin về tổ chức, nhân lực, nhiệm vụ, kết quả nghiên cứu và các nguồn lực khoa học, công nghệ trên phạm vi toàn quốc. Quan trọng hơn, hệ thống hướng tới chuyển dữ liệu thành thông tin, thông tin thành tri thức và tri thức thành giá trị phục vụ quản lý, nghiên cứu và sản xuất.
Theo Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định, việc đưa hệ thống vào vận hành là một dấu mốc quan trọng trong quá trình đổi mới phương thức quản lý nhà nước, thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển hạ tầng dữ liệu của ngành. Tuy nhiên, đây mới chỉ là bước khởi đầu; giá trị thực sự của hệ thống sẽ phụ thuộc vào chất lượng dữ liệu, khả năng kết nối, mức độ khai thác và hiệu quả thực tế mang lại.
![]() |
| Toàn cảnh lễ ra mắt. Ảnh: MOST |
Hình thành nền dữ liệu thống nhất về khoa học, công nghệ
Trong kỷ nguyên số, dữ liệu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành một loại hạ tầng thiết yếu, không chỉ phục vụ nghiên cứu và đào tạo mà còn hỗ trợ quản lý, hoạch định chính sách và kết nối thị trường.
Hệ thống thông tin quốc gia được xây dựng nhằm hình thành một đầu mối thông tin thống nhất, tin cậy, có khả năng kết nối và dùng chung trên phạm vi quốc gia. Hệ thống bước đầu quản lý tập trung lượng lớn dữ liệu về nhiệm vụ khoa học và công nghệ, công bố khoa học, tổ chức khoa học và công nghệ, nhân lực khoa học và công nghệ, thống kê khoa học và công nghệ.
Cùng với đó là hàng triệu dữ liệu được kết nối, chia sẻ từ các hệ thống nghiệp vụ của Bộ, bao gồm sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, công nghệ cao, chuyển giao công nghệ và các nguồn thông tin khoa học, công nghệ trong nước và quốc tế.
Hệ thống cũng từng bước liên thông dữ liệu về tổ chức, nhân lực, nhiệm vụ, kết quả nghiên cứu, công bố và trích dẫn khoa học, qua đó tạo cơ sở để hình thành bức tranh đầy đủ hơn về tiềm lực, hoạt động và kết quả khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của đất nước.
Theo Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học, mục tiêu không chỉ dừng ở việc “có dữ liệu” mà phải dùng được dữ liệu và tạo ra giá trị từ dữ liệu. Với cơ quan quản lý, hệ thống cung cấp cơ sở dữ liệu phục vụ hoạch định, tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách; với nhà khoa học, đây là nguồn thông tin để tìm kiếm chuyên gia, tổ chức, nguồn lực và cơ hội hợp tác; với doanh nghiệp, hệ thống có thể trở thành kênh tìm kiếm công nghệ, chuyên gia và kết quả nghiên cứu phù hợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh.
Đặc biệt, khi kết quả nghiên cứu và công nghệ được cập nhật đầy đủ, doanh nghiệp có thể tìm kiếm những công nghệ phù hợp với nhu cầu, xác định đơn vị đang nghiên cứu, mức độ hoàn thiện của công nghệ và khả năng kết nối với nhà khoa học. Qua đó, hệ thống có thể góp phần rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến sản xuất và thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Dữ liệu trở thành một “sản phẩm” của nhiệm vụ khoa học
Một điểm đáng chú ý được Thứ trưởng Lê Xuân Định nhấn mạnh tại lễ ra mắt là cần thay đổi cách tiếp cận đối với dữ liệu khoa học và công nghệ.
Theo đó, dữ liệu phải được quản trị xuyên suốt toàn bộ vòng đời của một nhiệm vụ khoa học và công nghệ, thay vì chỉ được thu thập và lưu trữ khi nhiệm vụ đã hoàn thành.
Ngay từ khâu xác định và đặt hàng nhiệm vụ, bên cạnh yêu cầu về sản phẩm, kết quả nghiên cứu, công bố quốc tế hay sáng chế, cần xác định rõ sản phẩm dữ liệu của nhiệm vụ. Dữ liệu được tạo ra trong quá trình nghiên cứu phải được chuẩn hóa, lưu trữ, cập nhật, kết nối, chia sẻ và có khả năng tái sử dụng cho những nhiệm vụ hoặc hoạt động quản lý tiếp theo.
Cách tiếp cận này tạo ra sự thay đổi từ quản lý từng nhiệm vụ riêng lẻ sang quản trị dữ liệu xuyên suốt vòng đời hoạt động khoa học và công nghệ.
Trong hồ sơ nhiệm vụ, theo định hướng được đưa ra, cần có nội dung về giao nộp, chuẩn hóa và cập nhật dữ liệu. Dữ liệu không kết thúc vòng đời cùng nhiệm vụ mà tiếp tục được quản lý, khai thác và cập nhật trong những giai đoạn sau. Bộ Khoa học và Công nghệ cũng định hướng Cục Thông tin phối hợp với các cục chuyên ngành và Quỹ NAFOSTED xây dựng cơ chế tập hợp đầy đủ dữ liệu từ các nhiệm vụ khoa học và công nghệ.
Khi nguồn dữ liệu được tích lũy đủ lớn và có cấu trúc, giá trị của dữ liệu có thể tiếp tục được khai thác thông qua các phương pháp phân tích và khai phá dữ liệu. Các nhà khoa học, doanh nghiệp và đối tác có thể sử dụng nguồn dữ liệu dùng chung để tìm kiếm hướng nghiên cứu, phát triển sản phẩm và dịch vụ mới.
Điều này cũng tạo tiền đề cho nguyên tắc “cập nhật một lần, sử dụng nhiều lần”. Giám đốc Quỹ NAFOSTED cho rằng dữ liệu đã có không nên tiếp tục yêu cầu nhà khoa học kê khai lại; thông tin đã được xác thực cần được chia sẻ và tái sử dụng, các hệ thống phải được kết nối, liên thông với nhau.
Đây là yếu tố có ý nghĩa trực tiếp đối với cải cách hành chính. Khi dữ liệu đã được chuẩn hóa và liên thông, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân không phải nhiều lần cung cấp những thông tin mà cơ quan quản lý đã có.
![]() |
| Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định cùng các đại biểu thực hiện nghi thức ra mắt Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ảnh: MOST |
Từ kho dữ liệu đến nền tảng phân tích và ra quyết định
Nếu việc tập hợp và kết nối dữ liệu tạo nên “phần nền” của hệ thống thì khai thác dữ liệu mới quyết định giá trị lâu dài.
Thứ trưởng Lê Xuân Định nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ quản lý dữ liệu sang khai thác giá trị của dữ liệu. Theo đó, cần phát triển các công cụ phân tích, thống kê, trực quan hóa và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để khai thác nguồn dữ liệu, phục vụ chỉ đạo, điều hành, đánh giá tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, theo dõi xu hướng phát triển và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Điểm đáng chú ý là hệ thống được định hướng không chỉ trả lời những câu hỏi mang tính thống kê như Nhà nước đã đầu tư bao nhiêu, thực hiện bao nhiêu nhiệm vụ hay tạo ra bao nhiêu sản phẩm, mà tiến tới trả lời câu hỏi quan trọng hơn: những kết quả đó tạo ra giá trị gì cho nền kinh tế và xã hội?
Theo đó, quản lý khoa học, công nghệ cần được tiếp cận theo toàn bộ chuỗi đầu vào (input) - đầu ra (output) - kết quả (outcome) - tác động (impact). Đây là sự chuyển đổi từ phương thức quản lý chủ yếu dựa trên việc theo dõi nhiệm vụ, sản phẩm sang quản lý dựa trên kết quả và tác động.
Với cách tiếp cận này, dữ liệu trở thành cơ sở để đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực Nhà nước, lựa chọn lĩnh vực ưu tiên đầu tư, theo dõi kết quả nghiên cứu và đánh giá tác động thực tế của các chương trình khoa học, công nghệ.
Đây cũng là nơi AI và các công cụ phân tích dữ liệu có thể phát huy vai trò. Khi dữ liệu được chuẩn hóa và kết nối đủ lớn, các công cụ phân tích có thể hỗ trợ nhận diện xu hướng nghiên cứu, xác định những lĩnh vực có tiềm năng, tìm kiếm mối liên hệ giữa nhà khoa học - tổ chức - công nghệ - nhiệm vụ nghiên cứu, từ đó cung cấp thêm cơ sở cho việc ra quyết định.
Nói cách khác, AI không thay thế dữ liệu mà phát huy giá trị trên nền dữ liệu đủ tốt. Đây cũng là lý do chất lượng, tính chính xác, khả năng cập nhật và liên thông của dữ liệu được đặt ở vị trí cốt lõi.
Kết nối để rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến sản xuất
Một nền tảng dữ liệu khoa học, công nghệ chỉ tạo ra giá trị khi có sự tham gia thường xuyên của các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và cộng đồng khoa học.
Tại lễ ra mắt, Thứ trưởng Lê Xuân Định yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh kết nối, liên thông và chia sẻ dữ liệu; đặt hệ thống trong tổng thể kiến trúc dữ liệu của Chính phủ và của Bộ, tăng cường kết nối với các cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin liên quan, hạn chế việc thu thập và cập nhật dữ liệu trùng lặp.
Từ góc độ ứng dụng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội đưa ra một ví dụ về quá trình số hóa trong nghiên cứu nông nghiệp cách đây khoảng 20 năm. Khi đó, các thiết bị đo còn hoạt động độc lập, người sử dụng phải đọc thông số, ghi chép rồi đưa vào máy tính. Việc kết nối thiết bị đo với máy tính đã giúp quá trình thu thập dữ liệu được tự động hóa, nhanh và chính xác hơn, đồng thời tạo điều kiện để dữ liệu được xử lý, khai thác hiệu quả hơn.
Từ câu chuyện này có thể thấy một nguyên tắc xuyên suốt của chuyển đổi số: khi dữ liệu được số hóa và các thiết bị, hệ thống được kết nối, phương thức làm việc sẽ thay đổi.
Với Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, bước tiếp theo là mở rộng khả năng kết nối để hình thành một hệ sinh thái dữ liệu thống nhất. Các hệ thống không hoạt động riêng lẻ mà có thể bổ trợ, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu.
Đối với doanh nghiệp, giá trị không chỉ nằm ở việc tra cứu thông tin. Hệ thống có thể trở thành một nền tảng kết nối công nghệ: doanh nghiệp tìm kiếm giải pháp và chuyên gia; nhà khoa học tìm kiếm đối tác; các tổ chức tìm kiếm nguồn lực và kết quả nghiên cứu phù hợp.
Đây cũng là kỳ vọng được Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội nhấn mạnh: khi doanh nghiệp dễ dàng xác định một công nghệ phù hợp, biết công nghệ đang được ai nghiên cứu, kết quả đến đâu và có thể kết nối với nhà khoa học như thế nào, khả năng đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sẽ được nâng lên.
Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, việc xây dựng hệ thống mới chỉ là bước đầu. Hệ thống chỉ thực sự có giá trị khi dữ liệu được cập nhật thường xuyên, các tổ chức và nhà khoa học tham gia cung cấp dữ liệu, đồng thời cộng đồng doanh nghiệp chủ động khai thác và đóng góp trở lại.
Theo Thứ trưởng Lê Xuân Định, một hệ thống hiện đại nhưng dữ liệu không đầy đủ, không được cập nhật và không có người sử dụng thì khó tạo ra giá trị. Vì vậy, mục tiêu trong giai đoạn tới là để hệ thống thực sự “sống”, trở thành hạ tầng kết nối tri thức khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trong đó dữ liệu liên tục được bổ sung, kết nối và tạo ra những giá trị mới.
Từ một hệ thống tập trung dữ liệu, nền tảng này đang được định hướng phát triển thành hạ tầng dữ liệu quốc gia cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, liên thông và có thể phân tích bằng các công cụ hiện đại, trong đó có AI, giá trị của mỗi nhiệm vụ nghiên cứu không chỉ được ghi nhận một lần mà có thể tiếp tục được khai thác, kết nối và tạo ra những giá trị mới cho quản lý, doanh nghiệp và nền kinh tế.