| Cơ hội của chuỗi giá trị toàn cầu Doanh nghiệp chủ động thúc đẩy phát triển và đổi mới đất nước Thời đại rực rỡ nhất lịch sử đất Việt |
Quan hệ quốc tế: quyền lực mềm quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Ở Việt Nam, bên cạnh quyền lực cứng (hard power), chiến lược IR là một quyền lực mềm (soft power) quyết định sự thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Sự ủng hộ của bạn bè quốc tế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) đóng vai trò chiến lược, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn. Trong bản Di chúc lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự kiến khi miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, Người sẽ đi thăm và cảm ơn các nước anh em, bạn bè quốc tế đã ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đây là không chỉ là tình cảm tri ân sâu sắc đối với sự đoàn kết quốc tế mà còn là chỉ dấu cho thấy tư duy chiến lược của lãnh tụ dân tộc về tầm quan trọng của IR đã góp phần quan trọng giúp Việt Nam giành thắng lợi cuối cùng.
![]() |
| Tại buổi tiếp Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae vào sáng ngày 2/5/2026 tại Phủ Chủ tịch, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu các định hướng lớn để tăng cường hợp tác chiến lược giữa hai nước. Ảnh TTXVN |
Sau hơn 40 năm đổi mới, hội nhập quốc tế đã mang lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đối với sự phát triển của đất nước. Việt Nam từng bước tham gia sâu rộng vào đời sống kinh tế, chính trị quốc tế; mở rộng quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với nhiều quốc gia; qua đó mở rộng không gian phát triển, phát triển các nguồn lực, vị thế và uy tín quốc gia trên trường quốc tế. Trong công cuộc đổi mới, IR giữ vai trò sinh tử trong việc bảo vệ chủ quyền, an ninh và phát triển kinh tế của Việt Nam. IR thực sự là "bức tranh chiến lược" mà một quốc gia hoạt động nhằm bảo vệ người dân, quyền lực và sự thịnh vượng.
Tuy nhiên, bối cảnh mới cũng đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với việc phát triển IR để nhằm bảo đảm độc lập, tự chủ, nhất là tự chủ chiến lược trong các lĩnh vực then chốt như kinh tế, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, an ninh dữ liệu, an ninh năng lượng và bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc.
Các nội dung cơ bản trong quan hệ quốc tế
Mặc dù IR bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng các chuyên gia IR thường tập trung vào 3 nội dung cơ bản để tối đa hóa các nguồn lực bên ngoài, đảm bảo an ninh quốc gia và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển:
Thứ nhất, Chính sách đối ngoại (Foreign Relations/Policy): tập trung xây dựng chính sách quan hệ song phương hoặc đa phương nhằm bảo vệ tổ quốc từ sớm, từ xa và ứng phó biến động. Phát triển các quan hệ đối tác chính trị mạnh mẽ, lâu dài với cả các bên trong khu vực và toàn cầu, chẳng hạn như ASEAN, Đông Bắc Á, EU, Châu Á - Thái Bình Dương,… để nắm bắt cơ hội và giải quyết các thách thức an ninh và kinh tế chung nhằm ứng phó và đối trọng với các đối thủ cạnh tranh cũng như đối tượng của quốc gia. Đến nay, Việt Nam đã nâng tổng số nước có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện lên 14 quốc gia bao gồm toàn bộ 5 nước thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc. Đặc biệt, dù "bốn không", Việt Nam vẫn sẵn sàng nghiên cứu và phát triển mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp dựa trên sự tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau.
Trong kỷ nguyên công nghệ mới, cần nghiên cứu và xây dựng chính sách phát triển hạ tầng truyền thông quốc tế như nền tảng truyền thông kỹ thuật số, mạng xã hội mới và an ninh kỹ thuật số, cũng như xây dựng kho dữ liệu các bộ luật và tiêu chuẩn khác nhau ở mọi nơi trên thế giới.
Ngoài ra, cần xây dựng chính sách để phát triển, lan tỏa văn hoá bản sắc dân tộc thông qua chính sách mở cửa kinh tế, người Việt công tác, lao động và học tập cũng như người Việt ở nước ngoài nhằm tăng cường nguồn lực mềm quốc gia.
Thứ hai, Hội nhập quốc tế (International integration): Hội nhập quốc tế là một hình thức hợp tác quốc tế phát triển cao, đóng vai trò là thành phần chủ chốt của Quan hệ quốc tế, bao gồm việc kết hợp các khía cạnh của đời sống quốc gia với các chuẩn mực quốc tế. Nó tăng cường kết nối và sự phụ thuộc lẫn nhau toàn cầu, trải rộng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hoá. Hội nhập quốc tế thường bao gồm việc xây dựng các thỏa thuận khu vực, hiệp định thương mại tự do và tăng cường quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên, thế giới hiện nay, các chính sách bảo hộ đã dẫn đến sự tái cấu trúc toàn diện của chuỗi cung ứng toàn cầu từ hiệu quả kinh tế thuần túy sang cân bằng với an ninh kinh tế, từ hợp tác đa phương sang chủ nghĩa bảo hộ. Ba xu hướng chuyển dịch chính cũng đang diễn ra trên thế giới, đó là chuyển sản xuất sang các nước đồng minh tin cậy (friendshoring), đưa sản xuất về gần thị trường tiêu thụ (nearshoring) và đưa các dây chuyền sản xuất về nước (re-shoring). Do đó, cần thực hiện tốt Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 16/9/2025 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về hội nhập quốc tế và chuyển từ chủ yếu hội nhập kinh tế sang hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, chủ động, chất lượng cao trong việc phát triển 5 nguồn lực cơ bản trên tinh thần "vừa hợp tác, vừa cạnh tranh". Tăng cường các kết nối thương mại, tài chính và đầu tư, giảm thiểu kinh tế phi chính thức và tạo ra một môi trường kinh doanh ổn định hơn để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
![]() |
| Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA) và Hiệp định bảo hộ đầu tư (EVIPA) thực thi từ năm 2020 đã đem lại những kết quả rất khả quan, nhất là trong bối cảnh đại dịch Covid-19. Ảnh minh họa |
Nghiên cứu thị trường toàn cầu và phân tích dữ liệu tài chính để theo dõi xu hướng kinh tế nhằm phát hiện các giao dịch đáng ngờ, độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh, thao túng tiền tệ, phá giá và lạm phát nhân tạo giá cả hàng hoá nhằm xây dựng hệ thống thuế quan và phi thuế quan phù hợp bảo vệ thị trường trong nước. Phát triển hệ thống mạng lưới Vietcham tại các thị trường trọng điểm nhằm tạo nhiều hơn cơ hội và hiểu biết về thị trường nước ngoài cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như giải quyết các vấn đề tranh chấp thương mại quốc tế. Đặc biệt, trước mắt, cần tích cực chuẩn bị cho vai trò chủ nhà và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia hiệu quả APEC 2027 tại Phú Quốc (An Giang) nhằm nâng tầm vai trò quốc tế của địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và quốc gia.
Thứ ba, Phát triển bền vững (Sustainable development): Các mối quan hệ quốc tế cấu thành một hình thức vốn xã hội quan trọng mà cốt lõi là các hệ thống thể chế xuyên quốc gia hoạt động như một tài sản vô hình giúp tăng cường hợp tác và lợi ích kinh tế cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi các nguồn lực. Chính vì vậy, cần có chính sách xây dựng năng lực và nguồn nhân lực thông qua đầu tư vào giáo dục và đào tạo kỹ năng IR. Trong quá trình đó, xây dựng phẩm chất của lãnh đạo các cấp, ngành và địa phương gắn với ngoại giao và quan hệ quốc tế ngày càng trở nên quan trọng. Các nhà lãnh đạo cần triển khai ngoại giao hiệu quả, biết đàm phán cả với đối tác và đối thủ cạnh tranh: Đối thủ tạo áp lực thúc đẩy đổi mới, nâng cao hiệu quả; đối tác mang lại nguồn lực, thị trường, công nghệ và sức mạnh hợp tác chuỗi cung ứng để mở rộng cơ hội tăng trưởng.
Hơn nữa, cần nâng cao năng lực chủ động tham gia, đóng góp và từng bước định hình “luật chơi” và phát triển thể chế khu vực và quốc tế được coi là yêu cầu quan trọng nhằm bảo vệ lợi ích và khẳng định vị thế, vai trò của Việt Nam trong môi trường quốc tế ngày càng phức tạp. Do đó, cần thúc đẩy việc tham gia vào luật pháp và các tổ chức quốc tế để phát triển kinh tế và hỗ trợ nhân đạo, thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs). Ngoài ra, biến đổi khí hậu là thách thức toàn cầu, đòi hỏi chính sách hợp tác quốc tế sâu rộng để xây dựng hệ thống cảnh báo sớm thiên tai cũng như phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp, thủy lợi và năng lượng bền vững,…
TS. Đoàn Duy Khương